Môn Phong Tổ Đình Long Thiền,monphongtodinhlongthien.vn,monphongtodinhlongthien

3 Ý NGHĨA TRỌNG YẾU TRONG HỆ THỐNG QUAN PHẬT PHÁP - Thích Nguyên Định

...Người học Phật, tu Phật và tương lai sẽ thành Phật phải thường giác biết duy chỉ có Nhất tâm chơn như là sáng soi, tròn đầy và vắng lặng. Vì sao vậy, vì không có tâm tác ý phân biệt thì không còn sự sanh diệt, đầy đủ mọi trí tuệ và quang minh sáng soi, xưa nay vốn bình đẳng tròn đầy....


 
Luận về hệ thống quan Phật pháp, có nghĩa là chúng ta nghiên cứu, tìm hiểu về bản sắc giá trị vốn có của Phật pháp, để hiểu rõ những mục tiêu vấn đề muốn đề cập đến, đồng thời người học Phật phải phân tích giảng giải làm rõ những vấn đề đó trên phương diện “thể” và “dụng” của nó. Ở đây, “thể” có nghĩa là bản thể, bản chất đặc thù các pháp, còn “dụng” là công dụng hay tác dụng của pháp đó được ứng dụng vào việc gì? Tùy theo pháp hành để khế hợp với Chánh pháp. Nội dung tư tưởng lý luận của hệ thống quan Phật pháp, xin được trình bày vắn tắt qua 3 ý nghĩa trọng yếu sau đây:

a. Thực chứng các pháp và Nhất tâm chân như, đạt đến mục đích của việc tu học
Khi nói đến các pháp trong thế giới dù nhỏ như hạt bụi, vi trần hay lớn như quả núi, trái đất, điều đó cũng đồng nghĩa là chúng ta nói đến tất cả mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ này. Cũng vậy, đứng về phương diện nhận thức luận trong ngôn ngữ Phật giáo, danh từ Nhất tâm chân như, Chân tâm, Như lai tạng tánh, Phật tánh, Bản lai diện mục, Viên giác tánh, Như như Phật... tất cả đều chỉ cho bản thể của tâm, mà tâm này là nói đến chân tâm, thanh tịnh tâm, chúng sanh ai cũng có đầy đủ trọn vẹn tánh công đức viên minh, vắng lặng, nhưng bởi chúng sanh bị nghiệp lực chiêu cảm, sinh khởi nhất niệm bất giác căn bản vô minh (s.
mūlāvidyā, c. 根本無明) nhiễm trước trần ai, rồi từ đó niệm tưởng (s. vikalpa, c. 念 想) cứ tương tục nối tiếp nhau triển chuyển dẫn dắt chúng sanh trầm luân trong các khổ thú. Tuy đã có nhiễm trước bởi tham ái, dục vọng đề huề nhưng bản thể tâm tánh vẫn thường hằng bất biến, không bị oxi hóa hay mất đi. Chúng sanh làm sao thấy được những sai lầm thất niệm từ thô đến tế này? Bởi lẽ hằng ngày luôn sống trong vọng niệm, xa rời Bồ đề tâm (s. bodhicitta, c. 菩提心), đam mê hương vị dục tình ngoan cố, học đòi theo nghĩ suy nhất thời, ngay thậm chí trí tuệ của hàng nhị thừa cũng không nhận biết được. Bồ tát sơ chánh tín có khả năng quán sát, tuy chưa chứng Pháp thân cũng có thể nhận biết được phần nào, đến Bồ tát cứu cánh địa cũng chưa thật sự hoàn toàn biết rõ, duy chỉ có trí tuệ của Phật mới đủ khả năng liễu tri một cách triệt để hoàn toàn. Vậy, nay con người chúng ta nhờ có một chút công phu tu tập hồi quang phản tỉnh, muốn quay trở về với Chân tâm vắng lặng giác biết của mình, thì e rằng đây không phải là việc dễ dàng chút nào, không phải nói “hồi đầu thị ngạn” (回頭是岸) quay đầu là bờ thì đến bờ ngay liền được, và cũng không phải nói “phóng hạ đồ đao lập địa thành Phật” (放下屠刀立地成佛) buông con dao đồ tể xuống, đứng ngay đó mà thành Phật thì lập tức thành Phật ngay liền được đâu! Thật sự vấn đề này không phải giản đơn chút nào? mà người học Phật phải trải qua vô số phương tiện y theo giáo pháp Đại thừa nỗ lực tiến tu, hằng ngày phải xông ướp văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ, hướng tâm đến Phật trí, có được như vậy mới phần nào tương xứng chánh pháp. Trong Đại Thừa Khởi Tín Luận nói:Nhược hữu chúng sinh năng quán vô niệm giả, tắc vi hướng Phật trí cố.[1] Nghĩa là: Nếu chúng sanh nào hay quán Vô niệm, người ấy đang hướng đến Phật trí. Cũng vậy, trong kinh Tăng chi bộ, đức Phật dạy: Có một pháp, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đế nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Pháp... niệm Tăng... niệm Giới... niệm Thí... niệm Thiên... niệm Hơi thở vô, Hơi thở ra... niệm Chết... niệm Thân... niệm An tịnh. Chính một pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.”[2]

Cho nên, người học Phật, tu Phật và tương lai sẽ thành Phật phải thường giác biết duy chỉ có Nhất tâm chơn như là sáng soi, tròn đầy và vắng lặng. Vì sao vậy, vì không có tâm tác ý phân biệt thì không còn sự sanh diệt, đầy đủ mọi trí tuệ và quang minh sáng soi, xưa nay vốn bình đẳng tròn đầy. Do đó, chỉ có thực chứng Chân tâm của Phật pháp mới đạt đến mục đích tối thượng bất nhị pháp môn, mà đây cũng là chủ nghĩa duy vật đang mong mỏi tầm cầu (tìm cầu cái vô tướng trong hữu tướng thì làm sao thấy được?). Cho nên, khi người tu học Phật một khi đã giác ngộ được bản thể Nhất tâm chân như là thường hằng bất biến, thì đây là bước sơ khởi để đi vào ngôi nhà tư tưởng của Đại thừa Phật pháp.




b. Thành tựu được nhân cách toàn vẹn và Pháp giới viên mãn
Yếu tố quan trọng thứ hai, đó là khi năng lực công phu tu tập chúng ta hoàn thiện đầy đủ mọi nhân cách, phẩm hạnh, đạo đức tác phong, tư tưởng, lời ăn tiếng nói ái ngữ hòa nhã, tâm hồn luôn hoan hỷ với tất cả tha nhân, không phân biệt dù người thân hay kẻ sơ; dù người giàu hay người nghèo, mà họ đến với đạo thì luôn đón tiếp một cách niềm nở - ứng nhân tiếp vật bình đẳng như nhau, hãy quán chiếu tâm của chúng ta như đất, chứa đựng bao dung với tất cả cỏ cây hoa lá, dù pháp tịnh hay bất tịnh, đất cũng không hề phàn nàn. Trong Văn cảnh sách, Tổ Quy Sơn dạy: “...Nội cần khắc niệm chi công, ngoại hoằng bất tránh chi đức...” Nghĩa là: Cho nên, người tu - học Phật thành tựu được nhân cách của con người xứng danh là đệ tử Như-Lai, thì phải thực hành theo hạnh của Như-Lai, thông qua bốn oai nghi đó là đi, đứng, ngồi, nằm trong chánh niệm. Hơn thế nữa, đã là người con Phật phải thể hiện thực sự đúng với ba điểm cần thiết như trong kinh Pháp hoa, phẩm Pháp sư thứ 10 nói: “...Nhà Như-Lai chính là tâm từ bi lớn đối với trong tất cả chúng sanh, y Như-Lai chính là lòng nhu hòa, nhẫn nhục, tòa Như-Lai chính là nhất thiết pháp không...”[3]

Nói đến quả vị Phật thì tất cả chúng sanh đều có đủ khả năng thành tựu, vì sao? Vì Chân tâm Phật tánh, bản thể thanh tịnh hạt giống giác ngộ ai cũng có sẳn bình đẳng đầy đủ viên dung, chẳng qua là do chánh nhân đương thể đó chưa biết cách khai thác, mài dũa làm cho viên ngọc minh châu sáng lên mà thôi. Trong kinh Tạp A Hàm, đức Phật xác quyết: “Pháp Duyên khởi ấy, dù có Như-Lai xuất hiện hay không xuất hiện, an trú là giới tánh ấy, pháp quyết định tánh ấy, y duyên tánh ấy. Như-Lai hoàn toàn chứng ngộ, chứng đạt định lý ấy. Sau khi hoàn toàn chứng ngộ, chứng đạt, Như -Lai tuyên bố, tuyên thuyết, khai triển, khai thị, phân biệt, minh hiển, minh thị.”[4]


Thứ đến, thế nào gọi là thành tựu Pháp giới (s. dharmadhatu) viên mãn? Về mặt lý giải thích. Pháp có nghĩa là các Pháp, bao gồm sự vật hiện tượng; Giới là cảnh giới, giới hạn. Vì các Pháp vốn đều có tự thể nhưng vì cảnh giới nghiệp cảm không đồng của chúng sanh, cho nên phải phân ra từng cảnh giới khác nhau. Mỗi cảnh giới là một Pháp giới như mười cảnh giới (Phật, Bồ tát, Duyên giác, Thanh văn, Trời, Người, A-tu-la, Ngạ quỷ, Súc sanh, Địa ngục). Nói một cách tổng quát, tất cả các pháp trong thế gian, sự vật trong vũ trụ, đều gọi chung là Pháp giới. Trong vũ trụ vô cùng vô tận, trải qua thời gian, lúc nào và nơi nào cũng có Phật pháp, gọi chung là cõi Pháp của Phật.

Giải thích theo mặt sự. Pháp giới là cảnh giới chung của chúng sinh. Dù người hay vật đều cùng có tánh giác như nhau, đều có Pháp tánh, Phật tánh, Bản giác, Chân như bình đẳng như nhau cả, tất cả đều có thể sẽ thành Phật. Pháp giới lại có nghĩa: Pháp tức là Thánh đạo (con đường thánh), Phật đạo. Giới là Cảnh giới màhành giả tu Phật phải nương theo. Nương theo Cảnh giới ấy mà tiến tới đến lúc thành Thánh, thành Phật, thành tựu đạo quả viên mãn. Pháp giới còn có nghĩa: Pháp tức là Pháp lý, Pháp môn. Giới tức là Tánh giác biết. Các Pháp đều đồng một tánh viên minh sáng suốt, người tu Phật nếu nương theo đó thì được hướng thượng, nhanh chóng đến cõi an lạc, giải thoát, vô ngại. Cho nên, một khi hành giả đã đoạn tận hết tất cả lậu hoặc nhiễm ô, thể nhập vào cảnh giới thanh tịnh, có nghĩa là thành tựu Pháp giới viên mãn, còn gọi là thế giới Tịnh Độ Thường Tịch Quang, đầy đủ tánh công đức của Thường (chân thường), lạc (chân lạc), ngã (chân ngã) và tịnh (chân tịnh), đây cũng là tứ đức trong kinh Kim Cang. Nơi này không còn ngăn ngại, chướng cản hay khúc xạ bởi vật chất nữa, tâm luôn trong trạng thái tịch tĩnh vắng lặng, thong dong tự tại, khứ lai vô quái ngại. Bát Nhã Tâm Kinh nói: Liễu đạt pháp tướng vô quái ngại...Nghĩa là: thấu đạt các pháp tướng không ngăn ngại, hay trong Chứng đạo ca, ngài Huyền Giác nói: “... Sắc thanh vô quái ngại...” tức là sự vi diệu nhiệm mầu của quả vị giác ngộ thành Phật. Bởi do nương vào Nhất tâm chân như làm nền tảng căn bản để đạt đến quả vị cứu cánh, và đây cũng chính là bước thứ hai để hành giả đi vào ngôi nhà tư tưởng Đại thừa Phật pháp.



c. Tùy thuận vô biên thế giới chúng sanh, để ứng thân giáo hóa vô tận và đem lại sự lợi ích vô cùng
Theo quan điểm của Phật giáo Nguyên thủy và Đại thừa nói chung, tất cả mọi việc làm đối với đời cũng như đạo cả hai đều dung thông với nhau, bản thân đương thể đó tu là đem lại sự lợi ích an vui lý tưởng sống mà con người đã quyết chọn, một khi bản thân chúng ta được yên ổn, không gây bất an, ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống xã hội con người, điều đó cũng đồng nghĩa là chính đương thể đó đang góp phần trong cái nhìn tích cực xây dựng tô son điểm phấn cho đời xinh tươi. Chúng ta biết, trong thời gian Bồ tát Tất-đạt-đa (s. Siddhārtha) xuất gia tu khổ hạnh tại núi tuyết Hy Mã Lạp Sơn như thế nào, thì trong chốn hoàng cung nàng Da-du-đà-la (s. Yaśodharā) cũng khổ hạnh giống như thế đó. Điều này còn khẳng định, tình yêu không chỉ dừng lại ở chỗ bằng ánh mắt và nụ cười của cuộc sống thường tình mà còn vượt xa hơn, cao thượng hơn, ngày cũng như đêm nàng luôn trông mong chờ đợi tin vui từ Bồ tát Tất-đạt-đa mau chóng đắc đạo, thành tựu đạo quả giải thoát để hóa độ chúng sanh.

Từ những vấn đề thực tế này, chúng ta thấy người tu học Phật pháp không chỉ tu giải thoát cho bản thân mình tức là tự lợi, mà còn làm lợi lạc giải thoát cho người khác nữa, nghĩa là lợi tha, nên gọi là Bồ tát đạo là lấy niềm vui của chúng sanh làm niềm vui của mình, lấy nỗi khổ của chúng sanh để mình dụng công tu tập. Người con Phật chúng ta học theo nguyện của đức Bồ tát Quán Thế Âm là “hạnh lắng nghe”: “Kính lạy đức Bồ tát Quán Thế Âm, chúng con xin học theo hạnh Ngài, biết lắng tai nghe cho cuộc đời bớt khổ. Ngài là trái tim biết nghe và biết hiểu. Chúng con xin tập ngồi nghe với tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con. Chúng con xin tập ngồi nghe với tâm không thành kiến. Chúng con xin tập ngồi nghe mà không phán xét, không phản ứng. Chúng con nguyện tập ngồi nghe để hiểu. Chúng con xin nguyện ngồi nghe chăm chú để có thể hiểu được những điều đang nghe và cả những điều không nói. Chúng con biết rằng chỉ cần lắng nghe thôi, chúng con cũng đã làm vơi đi rất nhiều khổ đau của kẻ khác rồi.” Cho nên người tu học Phật không thể xa rời cõi Ta bà (s, p. sahā) này mà thành tựu được đạo quả, Bồ tát luôn lấy chúng sanh làm đối tượng để tu tập, dấn thân thực hiện trên con đường lợi lạc cho tự thân và tha nhân cùng hướng đến và đạt được Phật quả (s. Buddhatva, p. Buddhatta, e. Buddhahood), đây là tinh thần của Phật pháp Đại thừa, tất cả những việc làm dù nhỏ hay lớn, đều làm cho chính bản thân chúng ta cả, tô bồi phước đức cho Bồ-đề tâm (s. Bodhicitta) ngày được kiên cố vững mạnh hơn, cây giác ngộ đâm chồi nảy lộc càng xanh tươi tốt đẹp hơn. Cổ nhân có câu: “Thật tế lý địa bất thọ nhất trần, vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp” cũng không ngoài ý nghĩa này vậy.

Bồ tát hóa độ vô lượng, vô biên, vô số chúng sanh mà không thấy chúng sanh nào độ cả, vì tâm của các Ngài không dính mắc, không chấp tướng, như “Nhạn quá trường không/ Ảnh trầm hàn thủy/ Nhạn vô di tích chi ý/ Thủy vô lưu ảnh chi tâm.”[5]  Trong kinh Kim Cang, đức Phật bảo Tu-bồ-đề: “Tuy diệt độ vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh như thế, nhưng thật ra không có chúng sanh nào được diệt độ cả. Vì sao? Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả tức không phải là Bồ-tát.”

Nên biết, nói là tùy thuận, có nghĩa vì nghiệp lực của tất cả chúng sanh trong các cõi giới, sáu nẻo luân hồi thật đáng thương không giống nhau, vì nghiệp lực của chúng sanh chiêu cảm nên dẫn đến tâm tưởng cũng dị biệt. Đức Phật dạy tất cả đều do nghiệp mà ra. “Ta là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy.”[6] Còn đối với hàng nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác) cũng có khác, tất cả đều nương vào nguyện lực ánh sáng hào quang của chư Phật mà tùy thuận giáo hóa, nói chung là khiến cho mọi loài chúng sanh giác ngộ thấy rõ được con đường sự thật của khổ, nguyên nhân dẫn đến khổ đau, để xa lìa khổ ách mà đạt quả an vui giải thoát.

Giáo pháp của đức Phật luôn tùy thuận theo duyên nghiệp của các pháp giới chúng sanh, để ứng thân hóa độ, tùy theo bịnh mà kê đơn cho thuốc, với không ngoài mục đích chính đó là làm lợi lạc vô biên vô số chúng sanh. Hễ có hằng hà sa số thế giới, có vô lượng vô biên chúng sanh, thì giáo pháp của đức Phật cũng có vô số phương tiện, vô lượng pháp môn tu. Trong kinh Pháp hoa, phẩm Phương tiện, đức Phật khẳng định với Bồ-tát Xá-lợi-phất: “Này Xá-lơi-phất, chư Phật chỉ vì một việc trọng đại lớn duy nhất mà thị hiện ra nơi đời, đó là: Khai thị chúng sanh, ngộ nhập tri kiến Phật.”[7] Cho nên, suốt 49 năm hoằng pháp lợi sanh của đức Đạo sư, Ngài chỉ nói duy nhất có hai điều, đó là: “Này các Tỳ kheo, xưa cũng như nay Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ.[8] Đây chính là bước thứ ba để người tu học Phật đi vào ngôi nhà Phật pháp Đại thừa, đầy đủ vô lượng công đức, từ bi trí tuệ, làm lợi ích cho chính mình và tha nhân an lạc, và cũng là nền tảng căn bản của hệ thống Phật pháp Đại thừa.




Tóm lại: Như những gì đã trình bày ở trên về hệ thống quan Phật pháp, chúng ta biết cuộc đời là vô thường (p. aniccā), thay đổi, biến chuyển, vật đổi sao dời, nhưng không theo đó mà con người suy nghĩ thiển cận, tiêu nha bại chủng hạt giống Phật trí, mà chúng ta phải tin hiểu - giác ngộ được trong vô thường đó có cái gọi là chân thường (p. sacca, e. true), cái chân thật, cái tự tại và cái tự tánh (s. svabhāva, e. by itself) chính là Nhất tâm chân như, chân giác là tánh biết sáng suốt. Chư Phật, chư Bồ-tát cũng từ chân tâm này mà ứng thân thị hiện hóa độ vô biên vô số chúng sanh, cũng vậy người tu học Phật pháp chúng ta phải vận dụng gia tài pháp bảo vốn có của mình để dấn thân hành đạo theo dấu chân chánh pháp mà chư Phật, chư vị lịch đại Tổ sư đã đi trên con đường “chuyển mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc” vậy.
 
Tài Liệu Tham Khảo
  1. Đại Tạng Kinh Việt Nam, Kinh Trung Bộ.
  2. Đại Tạng Kinh Việt Nam, Kinh Tăng Chi Bộ.
  3. Kinh Tạp A Hàm, tập II.
  4. Kinh Kim Cang.
  5. Kinh Duy Ma Cật.
  6. HT. Thích Trí Tịnh (dịch), Kinh Pháp Hoa, TP.HCM, Nxb Tôn giáo, 2001.
  7. HT. Thích Từ Thông (Biên dịch), Chứng Đạo Ca - Trực Chỉ Đề Cương, (Giáo án Cao đẳng Phật Học - Trường Phật Học Thành Phố Hồ Chí Minh),  Nxb Tôn giáo, 2010.
  8. HT. Thích Nhật Quang (dịch), Luận Phật Thừa Tông Yếu, TP. HCM, Nxb Tôn giáo, 2001.
  9. H.T Thích Liêm Chính (việt dịch và cương yếu), Đại Thừa Khởi Tín Luận, TP.HCM, Nxb Tôn giáo, 2018.
 
Chú thích
[1] H.T Thích Liêm Chính (việt dịch và cương yếu), Đại Thừa Khởi Tín Luận, TP.HCM, Nxb Tôn giáo, 2018, tr. 41.
[2] Tăng chi bộ, XVI. Phẩm một pháp.
[3] HT. Thích Trí Tịnh (dịch), Kinh Pháp Hoa, TP.HCM, Nxb Tôn giáo, 2001, tr. 298.
[4] Kinh Tạp A Hàm, tập II.
[5] Thơ Thiền sư Hương Hải (1627-1715) [鴈 過 長 空/ 影 沉 寒 水/ 鴈 無 遺 跡 之 意/ 水 無 留 影 之 心].
[6] Kinh Tăng Chi (tập II).
[7] HT. Thích Trí Tịnh (dịch), Kinh Pháp Hoa, TP.HCM, Nxb Tôn giáo, 2001, các tr. 64-65.
[8]  Kinh Trung Bộ (tập I).
 
 
 

Các tin khác

Nghe nhiều

Lịch

THỐNG KÊ

Đang truy cập 4
Hôm nay 76
Hôm qua 66
Trong tuần 268
Trong tháng 1351
Tổng truy cập 2193661