Môn Phong Tổ Đình Long Thiền,monphongtodinhlongthien.vn,monphongtodinhlongthien

Giới Thiệu Lịch Sử Ngắn Phật Giáo Tây Tạng - Thích Nguyên Định

Giới Thiệu Lịch Sử Ngắn Phật Giáo Tây Tạng - Thích Nguyên Định
 
Phật giáo Tây Tạng là tôn giáo quan trọng nhất ở Tây Tạng. Nó có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi khía cạnh của người dân Tây Tạng.
 
Phật giáo được du nhập vào Tây Tạng vào thế kỷ thứ 7 từ Trung Quốc đại lục, Ấn Độ và Nepal và trở thành một sự hiện diện lớn ở Tây Tạng vào cuối thế kỷ thứ 8. Vua Tây Tạng Tùng Tán Càn Bố (618 - 649) (Songtsen Gampo - སྲོང་བཙན་སྒམ་པོ), người thống nhất Tây Tạng năm 641 đã đóng một vai trò quan trọng trong Phật giáo Tây Tạng. Người ta tin rằng, ông kết hôn với hai công chúa, công chúa của nước Nê-pan (Nepal) là Văn Thành Devi (Bhrikuti Devi - ལྷ་ཅིག་ཁྲི་བཙུན་) và công chúa Trung Quốc là Văn Xương đã đưa Phật giáo vào Tây Tạng. Cả hai người vợ của ông đã mang tượng Phật từ hai đất nước này đến Tây Tạng. [1]
Chẳng bao lâu, vua Tùng Tán Càn Bố đã biến Phật giáo thành Quốc giáo, thành lập một loạt cơ sở Tu viện (Gompa) với 108 ngôi chùa Phật giáo trên khắp khu vực và đưa các dịch giả Tây Tạng làm việc về kinh điển tiếng Phạn (Sanskrit). Bên cạnh đó, Ông đã xây dựng những ngôi
chùa Phật giáo đầu tiên ở Tây Tạng, bao gồm Đại chiêu tự - 大昭寺 (Jokhang tempel - ཇོ་ཁང།) ở Lhasa và Tu viện Xương Châu - 昌珠寺 (Trandruk - ཁྲ་འབྲུག་དགོན་པ།) ở Nedong. Vua Tùng Tán Càn Bố cũng đã xây dựng Tu viện Tiểu Chiêu - 小昭寺 (Ramoche - ར་མོ་ཆེ་དགོན་པ་) cho các bức tượng Phật mà Công chúa Văn Xương đã mang theo bên mình. Bản thân công chúa cũng đã xây dựng Tu viện Đại chiêu (Jokhang). Ngày nay, bức tượng Thích-ca Mâu-ni (Sakyamunī) ban đầu được cho là do Công chúa Văn Xương mang đến vẫn được lưu giữ ở chánh điện của Tu viện Đại chiêu này. Trong khi đó, đức Phật Bất Động (Aksobhya), do Công chúa Văn Thành Devi  mang đến, cũng được chuyển đến chùa Tiểu Chiêu (Ramoche).


Kể từ đó, Phật giáo Tây Tạng bắt đầu ảnh hưởng đối với người dân Tây Tạng. Trong triều đại của vua Ngật-lật-song Đề-tán - 吃栗雙提贊 (755-797) (Trisong Detsen - ཁྲི་སྲོང་ལྡེ་བཙན), Phật giáo đã trở thành tôn giáo chính thức của người dân Tây Tạng. Nhà vua cũng đã mời các Đại sư Phật giáo nổi tiếng như: Đại sư Tịch Hộ - 寂護 (725–788) (Santarakshita - ཞི་བའ་ཚོ) và Đại sư Liên Hoa
Sinh (Padmasambhava - པད་མ་སམ་བྷ་ཝ་) đến Tây Tạng. Đại sư Liên Hoa Sinh được người Tây Tạng nhớ đến là Đạo sư Rinpoche  (Guru Rinpoche) hay còn gọi là "Đạo sư quý giá", là một bậc thầy về Mật tông Ấn Độ, có ảnh hưởng đến sự phát triển của Phật giáo Tây Tạng là không thể nghĩ bàn (bất khả tư nghì). Ông có công xây dựng Tu viện Samye, Tu viện đầu tiên ở Tây Tạng, vào cuối thế kỷ thứ 8. Giáo phái Ninh-mã - 寧瑪派  (Nyingmapa - རྙིང་མ་བ་) là một trong bốn giáo phái lớn của Phật giáo Tây Tạng (Nyingmapa, Sakyapa, Kagyupa và Gelugpa), tuyên bố Ngài Guru Rinpoche là vị Tổ của giáo phái đó. Người ta nói rằng, Đạo sư Rinpoche đã bình định những trò yêu thuật ma quỷ của tôn giáo Bön  (བོན་) và biến chúng thành những người bảo vệ Phật pháp khi ngài đến Tây Tạng.

Tuy nhiên, Phật giáo Tây Tạng đã từng bị đàn áp. Vào năm 836, vua Tri Ralpachen ( ཁྲི་རལ་པ་ཅན), một người ủng hộ Phật giáo, qua đời. Anh trai cùng cha khác mẹ là Langdarma (803 - 842) (གླང་དར་མ་།་འུ་དུམ་བཙན་པོ) lên ngôi trở thành Quốc vương mới của Tây Tạng. Langdarma đàn áp Phật giáo và tái lập tôn giáo Bön trở thành tôn giáo chính thức của Tây Tạng.

Sau đó không bao lâu, vào năm 842, Langdarma bị một tu sĩ Phật giáo ám sát. Sự cai trị của Tây Tạng được phân chia giữa hai người con trai của Langdarma. Trong các thế kỷ tiếp theo, Tây Tạng sau đó bị chia thành nhiều vương quốc nhỏ.

Trong khi Phật giáo Tây Tạng không bị hủy diệt. Một học giả vĩ đại khác của Ấn Độ được biết đến là Atisha (982–1054)
[2] đã được vua Jangchubwo mời đến Tây Tạng, đánh dấu sự khởi đầu của "truyền bá thứ hai" (Second Dissemination) của Phật giáo ở Tây Tạng. Theo yêu cầu của nhà vua, Atisha đã viết một cuốn sách cho các đối tượng của nhà vua tên là  "Ngọn đèn dẫn đến con đường giác ngộ" (Lamp to the Path of Enlightenment)[3]. Thông qua các giáo lý và bài viết của Atisha, Phật giáo một lần nữa trở thành tôn giáo chính của người dân Tây Tạng.

Sau đó, Phật giáo Tây Tạng đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ đối với người dân Tây Tạng, ngay cả các dân tộc ở Trung Á, đặc biệt là ở Mông Cổ và Mãn Châu. Nó được chấp nhận là một tôn giáo nhà nước chính thức của triều đại Mông- Nguyên và triều đại Mãn Thanh của Trung Quốc.


Chú thích
[1].  Xem Prof. P.V. Bapat, 2500 Years of Buddhism. New Delhi, May 24, 1956.
[2]. Xem Translated by Alka Chattopadhyaya, Atisa and Tibet: Life and Works of Dipamakara Srijnana (Alias Atisa) In Relation To The History And Religion Of Tibet With Tibetan Sourse. New Delhi, 1999.
[3]. Sherburne, Richard, A Lamp of the Path and Commentary by Atisha, London: 1983.
 

Các tin khác

Nghe nhiều

Lịch

THỐNG KÊ

Đang truy cập 3
Hôm nay 23
Hôm qua 45
Trong tuần 68
Trong tháng 522
Tổng truy cập 2187455