Môn Phong Tổ Đình Long Thiền,monphongtodinhlongthien.vn,monphongtodinhlongthien

Một Vài Nhận Định Về Phật Giáo Tây Tạng - Thích Nguyên Định

         

  Bánh xe thời gian luôn xoay quanh trục của nó và Tây Tạng trải qua nhiều thay đổi trong đời sống xã hội, văn hóa và tôn giáo, họ gặp vô số khó khăn trong sự thịnh vượng tại thời điểm suy tàn, từ Triều đại này sang Triều đại khác với một loạt mười vị vua ngay từ Tùng Tán Cán Bố cho đến vị vua khét tiếng Langdarma, nhưng Phật giáo vẫn đứng vững và tồn tại đến ngày nay trên “vùng đất tuyết”, đó là sự khó khăn của những con người có lòng tín tâm ủng hộ yêu thích Phật giáo của các vị vua lãnh đạo, cũng như những người có niềm tin vững chắc và trách nhiệm của các bậc thầy truyền giáo như Đại sư Liên Hoa Sinh, Liên Hoa Giới và Tịch Hộ.v.v... Chúng ta có thể nghĩ rằng, các vị vua ở Tây Tạng và các học giả Ấn Độ đã chuẩn bị nơi để thiết lập và truyền bá niềm tin Phật giáo ở Tây tạng. Việc thành lập một Tu viện Samye được coi là một yếu tố tuyệt vời trong cuộc chinh phục Phật giáo ở Tây Tạng.

           Khi mới bắt đầu đến Tây Tạng, ngài Tịch Hộ và ngài Liên Hoa Sinh giới thiệu một niềm tin và triết lý mới làm cho họ phải đối mặt với một cơn thịnh nộ hung hăng và phẫn nộ của quần chúng cũng như những người quý tộc. Điều rất tự nhiên là một tôn giáo ngoại lai, không thể chuyển đổi những tập tục để thuyết phục được người bản xứ. Bön được xem là quốc giáo của Tây Tạng trước khi Phật giáo truyền vào “vùng đất tuyết”, nó có hệ thống các thực hành tôn giáo Bön ở Tây Tạng. Người Tây Tạng đầu thế kỷ VII đang làm lễ tế thần và thờ cúng các linh hồn, mặt trời, mặt trăng, núi, cây cối, v.v..., sự mê tín đó nó đã ăn sâu vào trong tâm thức, suy nghĩ, tâm lý, lối sống và lễ nghi của họ. Những vị vua Tây Tạng đã nỗ lực thay đổi suy nghĩ của các người dân lúc bấy giờ, điều này đã dẫn đến những cuộc bạo loạn xảy ra thường xuyên bất đồng về tư tưởng.

            Do đó, đối với Phật giáo phải hòa đồng với tôn giáo Bön, phù hợp với nhiều nghi thức tập tục tín ngưỡng của tôn giáo này và cũng nghe nói rằng, ngài Tịch Hộ phải chạy trốn đến Nepal khi lần đầu tiên đến nơi ấy. Người Tây Tạng đã e ngại vì ngài Tịch Hộ cùng với tôn giáo mới của mình đã mang đến một điềm xấu cho người Tây Tạng. Không chỉ vậy, ngay cả truyền giáo của ngài Liên Hoa Sinh đến Tây Tạng thời gian cũng rất ngắn ngủi. Ở mọi bước và mọi lúc trong suốt thế kỷ VII, VIII và IX, Phật giáo phải đối mặt với sự phẫn nộ của quần chúng và một vài vị vua Tây Tạng. Sự phản đối này đối với dòng Phật giáo mới ở Tây Tạng là ba khía cạnh từ các vị tu sĩ của tôn giáo bản địa Bön, từ các tầng lớp quý tộc và từ một số vị vua hiếu chiến. Do đó, chúng ta thấy Phật giáo có thể phát triển ở Tây Tạng vào thế kỷ VIII sau khi có những cuộc xung đột tôn giáo xảy ra từ vụ ám sát Langdarma, Phật giáo đã bị suy sụp ở Tây Tạng trong hai thế kỷ và nó đã được hồi sinh ở đó vào năm 1042 khi ngài Atisha đến và sau đó trở thành một nhà truyền giáo uy danh.

            Trong thế kỷ VII - VIII, Phật giáo và các vị vua lúc bấy giờ cũng như những người cải đạo được truyền giáo, khởi xướng trong nền minh triết Phật giáo, thực hành bởi các vị thầy ở Ấn Độ và Trung Quốc. Vì vị trí địa lý của nó mà Tây Tạng thường xuyên có một loạt các học giả Phật giáo từ Ấn Độ, Trung Quốc, Khotan và Kuchi, v.v... tất cả những học giả và tu sĩ này đã cố gắng hết sức để mang đến cho người Tây Tạng một tư tưởng siêu phàm và một nền văn hóa đầy màu sắc tâm linh.

          Chính nhờ Phật giáo mà người Tây Tạng đã có được một nền văn học Phật giáo vô cùng rộng lớn, định hình tâm trí của họ thông qua văn hóa và văn minh. Đóng góp lớn nhất của tư tưởng và văn hóa Phật giáo đối với người Tây Tạng là tạo ra một hệ thống “chữ viết” và một tôn giáo siêu phàm với các tu viện đầy màu sắc và biểu tượng thần diệu. Không chỉ vậy người Tây Tạng còn có năng khiếu về nghệ thuật và thủ công, chúng được xem là một nền triết lý đặc biệt, văn hóa tinh thần đạo đức cũng cực kỳ tinh tế. Người Tây Tạng xứng đáng với mọi sự đánh giá cao và ngưỡng mộ, vì họ bảo tồn triết lý và văn hóa của chúng, trong suy nghĩ và cuộc sống của họ. Mọi khía cạnh của đời sống Tây Tạng đều bị ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng và văn hóa Phật giáo. Có đủ bằng chứng cả vật chất và văn bản để chứng minh rằng, những tư tưởng của Phật giáo là bản sao của tâm linh Phật giáo xuất chúng. Mọi cấu trúc dù là tôn giáo, vương giả, nghi lễ... đều thể hiện và phản ánh tâm linh rạng rỡ và sự thanh thản đầy cảm hứng của trí tuệ Phật giáo về nghệ thuật và văn hóa của nó.

Khi Phật giáo trở thành quốc giáo ở Tây Tạng đã tạo nên sức ảnh hưởng mạnh mẽ không chỉ dựa trên niềm tin mà còn liên quan đến các khía cạnh như nghệ thuật, văn hóa, phong tục và thay thế của xã hội.v.v... Phật giáo Tây Tạng cuối cùng cũng đã lan rộng sang các nước Mông Cổ và Nepal vào Trung Quốc, nơi nó nhận được sự bảo trợ của các Hoàng đế, đặc biệt là trong các Triều đại nhà Nguyên (1260-1368) và nhà Minh (1368-1644).

           Phật giáo Tây Tạng kế thừa một số truyền thống của Phật giáo Ấn Độ xưa, cũng như sự hưng thịnh mạnh mẽ đối với tu viện (Tây Tạng từng là nơi có các tu viện Phật giáo quan trọng nhất trên thế giới), một triết lý giáo dục tinh vi và các hình thức thực hành Mật tông nghiêm túc. Vào thời gian kế tiếp, Tây Tạng tiếp tục truyền thống của các tông phái phổ biến mạnh mẽ, kết hợp một phong cách tốt của các vị thần bản địa vào các tu viện Phật giáo đang phát triển. Với việc thành lập các tông phái như Nyingmapa, Kagyupa, Sakyapa, Kadampa và Gelugpa. Tông phái Nyingma đại diện cho làn sóng truyền bá Phật giáo Ấn Độ cổ điển đầu tiên vào Tây Tạng, bắt đầu từ thế kỷ VII - VIII. Tông phái Kagyupa, Sakyapa và Kadampa đại diện cho làn sóng truyền thứ hai của dòng truyền thừa Phật giáo cổ điển từ Ấn Độ, bắt đầu từ thế kỷ XI. Tông phái Gelugpa đại diện cho một truyền thống riêng biệt hình thành vào cuối thế kỷ XIV. Năm truyền thống này đều có chung một mục tiêu, cụ thể là phát triển một cái nhìn sâu sắc về bản chất của tâm và pháp, dựa trên tinh thần từ bi (S. Maitrī-karuṇā; Tib. བྱམས་པ་སྙིང་རྗེ་, Jampa-nyingjé) để mang lại những lợi ích cho tất cả chúng sinh, con người.

          Mặc dù có mục đích chung nhưng mỗi truyền thống có một sự kế thừa riêng biệt và quan trọng của dòng dõi truyền miệng văn học, nghệ thuật, mỗi truyền thống đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhưng không bị phá vỡ kể từ thời điểm biểu hiện đầu tiên. Trong vô số dòng dõi của mỗi truyền thống này, tồn tại một loạt các hệ thống phát triển nội tâm đa dạng và đã được ứng dụng; một kho tàng văn hóa đồ sồ về những hiểu biết triết học rất rõ ràng, tinh tế và phát triển phong phú đa dạng của những loại hình nghệ thuật, nghi lễ cũng như kỹ năng của chúng.

Đặc biệt, một trong số họ cao nhất và mạnh nhất là hệ thống các đức hạnh của tông phái Gelugpa, được thành lập bởi bậc thầy tôn kính từng được xuất hiện ở Tây Tạng với danh hiệu Tông-khách-ba và được các đệ tử của ngài thừa kế gọi là Lạt-ma. Sau đó, tông phái này được chia thành hai dòng dõi gọi là Dalai Lama và Panchen Lama. Điều tốt nhất cho Phật giáo Tây Tạng là tổ chức của Lạt-ma nhập thể, Phật tử Tây Tạng tin rằng các vị thầy từ bi được tái sinh hết lần này đến lần khác, trong mỗi đời họ được xác định khi họ còn trẻ và được truyền với tư chất và tình trạng tái sinh trước đó. Tây Tạng đã có một số Lạt-ma như vậy, người nổi tiếng hàng đầu là Đức Dalai Lama. Đức Dalai Lama thứ V La-bốc-tạng Gia-mục-thố (Tib. ངག་དབང་བློ་བཟང་-Ngawang-lobsang-Gyatso, 1617-1682) trở thành người lãnh đạo của Tây Tạng năm 1642, dưới sự hướng dẫn của ngài đã cho trùng tu cung điện vĩ đại của Potala ở Lhasa, đây cũng là Thủ đô của đất nước Tây tạng.

           Điều mà chúng tôi muốn nói ở đây, bánh xe không chỉ được dùng để vận chuyển mà còn tạo ra những lời cầu nguyện, đối với Tây Tạng dù là người lớn hay nhỏ cũng như bất cứ lúc nào và ở đâu họ luôn thực hành câu Thần chú “Án Ma Ni Bát Di Hồng” [1] (Tib. ཨོཾ་མ་ནི་པ་དྨེ་ཧཱུྃ་, Oṃ Maṇi Padme Hūṃ). Do đó, điều này cho chúng ta thấy rằng về sự kết nối nghệ thuật, văn hóa và tôn giáo trong nhiều thế kỷ đã có ảnh hưởng nhất định trong đời sống hàng ngày của người dân Tây Tạng. Bên cạnh đó, với sự hiện diện của một vị Phật sống như Đức Dalai Lama thứ XIV cũng đủ làm cho vùng cao nguyên nhỏ yên tịnh Dharmsāla trở thành một trung tâm Phật giáo nổi tiếng thế giới, thu hút mọi người từ khắp nơi trở về để cùng nhau tu học, hành hương chiêm bái cũng như luôn tỏ lòng tôn kính đối với Đức Dalai Lama và tôn thờ các thánh tích của Đức Phật. Dharmsāla đã thực sự trở thành một vùng đất linh thiêng, một vùng đất thánh thiện và là nơi tâm linh yên bình trên thế giới.

 
Tham khảo và chú thích:
[1] Thích Quảng Độ (dịch), Phật Quang Đại Từ Điển, (quyển 1), Nxb: Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc, 1999, các tr. 142-143.

Các tin khác

Nghe nhiều

Lịch

THỐNG KÊ

Đang truy cập 4
Hôm nay 72
Hôm qua 66
Trong tuần 264
Trong tháng 1347
Tổng truy cập 2193656