Môn Phong Tổ Đình Long Thiền,monphongtodinhlongthien.vn,monphongtodinhlongthien

NHỮNG CỐNG HIẾN CỦA CÁC VỊ LẠT-MA TÔNG PHÁI GELUGPA ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO TÂY TẠNG


   Tượng Sơ tổ Tông-khách-ba (giữa) nhị tổ Gyaltsab Je và tam tổ Khedrup Gelek Pelzang

Tông phái Gelugpa được thành lập bởi Đại sư Tông-khách-ba còn được gọi là sơ tổ,[1] sau này được chia thành hai dòng truyền thừa tức là Dalai Lama và  Panchen Lama mà ngày nay trên toàn thế giới được biết đến Phật giáo Tây Tạng thông qua sự lãnh đạo uy đức của các vị Lạt-ma này. Ngang đây, chúng tôi sẽ trình bày về những cống hiến của các vị Lạt-ma tông phái Gelugpa đối với sự phát triển Phật giáo Tây Tạng như: Đức Dalai Lama thứ XIV (Tib. ཏཱ་ལའི་བླ་མ་, Tā-la’i-bla-ma), Đức Panchen Lama (Tib. པཎ་ཆེན་བླ་མ།, Pan-chen-bla-ma), nhà tiên tri Nechung (Tib. གནས་ཆུང་, gnas-chung) và Đức Sogyal Rinpoche (Tib. བསོད་རྒྱལ་, Bsod-rgyal). Họ là những người đại diện tiếng nói cho các nhà lãnh đạo tinh thần của Phật giáo Tây Tạng để truyền bá thông điệp hòa bình, bất bạo động, từ bi, hài hòa với các hoạt động tôn giáo trong đời sống xã hội.

5.1. Đức Dalai Lama thứ XIV, biểu tượng của lòng từ bi và trí tuệ
Đức Dalai Lama thứ XIV, Tenzin Gyatso (Tib. བསྟན་འཛིན་རྒྱ་མཚོ་, Bstan-‘dzin-rgya-mtsho) là người đứng đầu nhà nước và lãnh đạo tinh thần của người dân Tây Tạng. Người sinh vào ngày 6 tháng 7 năm 1935 trong một gia đình nông dân ở làng Takster (hổ gầm), đông bắc Tây Tạng. Năm 2 tuổi đứa trẻ Lhamo Thondup[2] được công nhận là hóa thân của Đức Dalai Lama thứ XIII (Thubten Gyatso, 1876-1933). Vào tháng 10 năm 1939 Đức Dalai Lama[3] trẻ tuổi đi cùng với nhóm người tìm kiếm và các thành viên gia đình của ngài đã đến Lhasa thủ đô của Tây Tạng. Lễ đăng quang diễn ra vào ngày 22 tháng 10 năm 1940 tại cung điện Potala.
Theo Rahul, Ram[4] viết rằng, Đức Dalai Lama bắt đầu giáo dục tu viện từ năm sáu tuổi. Chương trình giảng dạy bao gồm năm môn chính và năm môn phụ. Các môn học chính là logic, văn hóa nghệ thuật Tây Tạng, tiếng Phạn, y học và triết học Phật giáo được chia thành năm loại nữa, Trí tuệ Ba-la-mật (Prajñāpāramitā), Trung quán tông (Mādhyamika), triết học Trung đạo; Luật (Vinaya), Kinh điển giới luật tu sĩ; A-tì-đạt-ma (Abhidharma), siêu hình học; Pramana,[5] logic và nhận thức luận. Năm môn học nhỏ là thơ, nhạc, kịch, chiêm tinh và thành ngữ; từ đồng nghĩa. Sau đó, ngài được phong làm lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng ở tuổi 15. Năm 23 tuổi ngài tham dự kỳ thi cuối cùng tại tu viện Jokhang ở Lhasa, trong lễ hội Monlam Chenmo hay Đại lễ cầu nguyện năm 1959, ngài đã được vinh danh và được trao bằng cấp cao nhất Lharampa Géshé (tiến sĩ triết học Phật giáo).
Năm 1959 sau cuộc khởi nghĩa Tây Tạng tại Lhasa, ngài cùng hơn 8.000 người Tây Tạng vượt dãy Himalaya lưu trú tại thành phố Dharmsāla, miền đông bắc bang Himachal Pradesh - Ấn Độ. Tại đây, ngày 28 tháng 04 năm 1959, ngài thành lập Chính quyền Trung Ương Tây Tạng với mục tiêu “đưa người tị nạn Tây Tạng về quê, phục hồi tự do và hạnh phúc ở Tây Tạng”.
Dựa vào công trình nghiên cứu cá nhân của giáo sư Eric Sharp thuộc Đại học SydneyÚc thì Đức Dalai Lama thứ XIV là một trong ba[6]Thánh nhân người châu Á của thế kỷ thứ 20, ngài sở hữu những thành tích học tập rất xuất sắc. Hơn thế nữa, ngài còn được biết đến bởi những cống hiến và nỗ lực đã dành cho quê hương Tây Tạng, thực hiện nhiều cuộc vận động và cải cách Tây Tạng, thành lập trường Đại học Tây Tạng tại Ấn Độ, góp phần giải quyết những vấn đề của người Tây Tạng tại Ấn. Ngài được công nhận trên toàn cầu như một hiện thân của những nguyện vọng cao nhất về nhân quyền, chấm dứt nỗi khổ niềm đau, nuôi dưỡng hạnh phúc cho tất cả chúng sinh. Để truyền bá thông điệp nhân văn bền bỉ này, Đức Dalai Lama đã đi không mệt mỏi đến hơn 67 quốc gia, gặp gỡ và trao đổi rất nhiều nguyên thủ lãnh đạo đất nước; ngài đã tổ chức các cuộc đối thoại với những người đứng đầu của các tôn giáo khác nhau và nhiều nhà khoa học nổi tiếng và ngài cũng là tác giả hoặc đồng tác giả 116 cuốn sách bằng tiếng Anh.
Theo Richardson, H.E[7] viết rằng, để ghi nhận những nỗ lực không ngừng của Đức Dalai Lama nhằm truyền bá thông điệp hòa bình, tinh thần bất bạo động, đem lại phúc lợi bình an cho mọi người, sự hòa hợp giữa tôn giáo, trách nhiệm phổ quát và lòng từ bi, Đức Dalai Lama đã được vinh danh với hơn 150 giải thưởng và bằng Tiến sĩ danh dự bao gồm giải thưởng Hòa bình cao quý năm 1989, huy chương vàng của Quốc hội Hoa Kỳ năm 2007 và giải thưởng Templeton năm 2012.
Hiện tại Đức Dalai Lama sống trong một tịnh thất nhỏ thành phố Dharmsāla - Ấn Độ. Ở tuổi 85 ngài vẫn thức dậy vào lúc 4 giờ sáng, ngồi thiền, rồi tiếp tục làm việc theo thời khóa biểu của văn phòng chính phủ, tiếp khách và giảng dạy giáo lý cho các khóa tu hoặc chứng minh cho các Đại lễ. Ngài thường nói rằng: “Tôi chỉ là một tu sĩ Phật giáo bình thường, không hơn, không kém”[8] (I am just a simple Buddhist monk - no more, no less).

5.2. Đức Panchen Lama, biểu tượng của hạnh nguyện đại trí, đại hùng và đại lực
Vị Lạt-ma cao thứ hai trong tông phái Gelugpa là Panchen Lama, ngài được coi là một trong những nhà lãnh đạo tôn giáo đáng kính nhất của Tây Tạng. Đức Panchen Lama và Dalai Lama có mối quan hệ tâm linh đặc biệt và được gọi là “mặt trời và mặt trăng” trong bầu trời tâm linh Phật giáo Tây Tạng. Mối quan hệ giữa Đức Panchen Lama và Dalai Lama là duy nhất, vì hầu hết thời gian mỗi Lạt-ma không chỉ tham gia vào việc tìm kiếm tái sinh của người kia mà còn đảm nhận vai trò như đệ tử và sư phụ với nhau, cho đến thời gian gần đây Đức Panchen Lama chỉ đứng thứ hai sau Đức Dalai Lama trong uy quyền tâm linh của tông phái Gelugpa Phật giáo Tây Tạng.
Tiêu đề ‘Panchen’ được tạo thành từ âm tiết đầu tiên của hai từ ‘Pandit’, một từ tiếng Phạn có nghĩa là học giả và ‘Chenpo’, một từ tiếng Tây Tạng có nghĩa là vĩ đại. Vì vậy, nó là một tiêu đề được trao cho các đại học giả. Tất cả các vị trụ trì của tu viện Tashi Lhünpo (trụ sở của Panchen Lama và một trong những tu viện lớn của miền Trung Tây Tạng) cũng được biết đến bởi danh hiệu này. Trong giai đoạn đương nhiệm của Dalai Lama thứ V, Ngawang Lobsang Gyatso (1617-1682), trụ trì của Tashi Lhünpo, Lobsang Choekyi Gyaltsen (1570-1662) đã được trao tặng danh hiệu và quyền sở hữu của tu viện Tashi Lhünpo. Kể từ đó ba Hóa thân trước và sau của ngài được biết đến với danh hiệu Panchen Lama.[9]
Vai trò của Đức Panchen Lama và Dalai Lama có tầm ảnh hưởng sâu sắc trong cuộc sống hàng ngày ở Tây Tạng, cả hai dòng truyền thừa Lạt-ma ưu việt này, không chỉ có những đóng góp to lớn cho đời sống tinh thần và vật chất mà còn trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hóa nghệ thuật của người dân Tây Tạng.
Vào thế kỷ XVII, Đức Dalai Lama thứ V tuyên bố rằng người thầy của mình, Lobsang Choekyi Gyaltsen là Panchen Lama hiện tại sẽ tái sinh trong một đứa trẻ. Do đó, ngài trở thành người đầu tiên của dòng Lạt-ma tái sinh, xuất hiện trở lại là Lobsang Yeshi, Lobsang Palden Yeshi, Palden Tenpai Nyima, Tenpe Wangchuk và Thubten Choekyi Nyima. Các Đức Panchen Lama từng được coi là Hóa thân của Đức Phật A Di Đà.
Những bất đồng giữa sự quản lý của Dalai Lama và Tashi Lhünpo về trách nhiệm đã dẫn đến sự ra đi của Panchen Lama tới Trung Quốc vào năm 1923. Một cậu bé sinh ra từ cha mẹ Tây Tạng khoảng 1938 tại tỉnh Thanh Hải - Trung Quốc, Bskal-bzang Tshe-brtan được chính phủ Trung Quốc công nhận là người kế vị, nhưng không trải qua các bài kiểm tra chính xác thông thường xác định tái sinh. Ngài được đưa đến Tây Tạng vào năm 1952 và lên ngôi với tư cách là trụ trì của Tashi Lhünpo.
Sau sự viên tịch của Panchen Lama thứ X, Lobsang Trinley Choekyi Gyaltsen (1938-1989), một cuộc tìm kiếm đã được thực hiện để khám phá sự tái sinh của ngài. Năm 1995 Đức Dalai Lama công nhận Gedhun Choekyi Nyima sáu tuổi là Panchen Lama thứ XI, nhưng lựa chọn này đã bị chính phủ Trung Quốc từ chối, đưa cậu bé vào ‘chăm sóc riêng’ và sau đó đã bổ nhiệm Chökyi Gyelpo là Panchen Lama thứ XI vào cuối năm 1995. Vậy, làm thế nào để biết được thông tin rõ ràng của Panchen Lama thứ XI cũng như Panchen Lama tiếp theo? nó vẫn còn mơ hồ và trong vấn đề gây tranh cãi hiện nay. “Bây giờ là hai mươi năm kể từ khi Panchen Lama Choekyi Nyima thứ XI bị mất tích, không biết hôm nay ngài có an toàn không?”[10]

5.3. Nhà tiên tri Nechung, người làm trung gian giữa cõi tự nhiên và tâm linh
Thuật ngữ Nechung Oracle, theo truyền thống Tây Tạng từ “tiên tri” được sử dụng cho một tinh thần đi vào những người nam và người nữ đóng vai trò trung gian giữa các cõi tự nhiên và tâm linh. Do đó, cùng cách gọi khác được biết là “Kuten-la”, có nghĩa đen là “cơ sở vật chất”. Người Tây Tạng dựa vào các nhà tiên tri vì nhiều lý do. Mục đích của các nhà tiên tri là không chỉ để báo trước những điềm trong tương lai mà còn được xem như là những người bảo hộ và đôi khi đóng vai trò như những người Bác sĩ. Tuy nhiên, chức năng chính của họ là bảo hộ Phật Pháp và các hành giả tu tập. Nhà tiên tri Nechung được phong là một thứ trưởng trong hệ thống cấp bậc của chính phủ Tây Tạng lưu vong, bởi vị thần bảo hộ chính của chính phủ Tây Tạng và Dalai Lama.
Trong cuốn tự truyện của mình “Tự do lưu vong”[11] Đức Dalai Lama viết: trong hàng trăm năm nay, theo truyền thống Đức Dalai Lamavà Chính phủ đã tham khảo ý kiến của Nechung trong các lễ hội năm mới. Ngoài ra, Nechung có thể được thỉnh nguyện vào những lúc khác nếu có câu hỏi cụ thể. Bản thân tôi đã thảo luận với ngài vài lần trong một năm. Điều này nghe có vẻ xa vời đối với độc giả phương Tây thế kỷ XXI. Ngay cả một số người Tây Tạng, chủ yếu là những người tự coi mình là ‘tiến bộ’, có những hiểu lầm về việc tôi tiếp tục sử dụng phương pháp thu thập thông tin cổ xưa này.
Nhưng tôi làm như vậy vì một lý do đơn giản là khi tôi nhìn lại nhiều lần khi tôi đặt câu hỏi về Sấm ngôn (讖 言), trên mỗi người trong số họ đã chứng minh rằng câu trả lời của mình là đúng. Điều này không có nghĩa là tôi chỉ dựa vào lời khuyên của nhà Tiên tri. Tôi không thể tìm kiếm ý kiến của ngài ấy (nhà tiên tri) giống như cách tôi tìm kiếm ý kiến Nội các[12] (内 ) của tôi và cũng như tìm kiếm ý kiến về lương tâm của chính tôi.Tôi coi các vị thần là ‘thượng viện’ của tôi, Kashag[13] tạo thành ‘hạ viện’ của tôi. Giống như bất kỳ nhà lãnh đạo nào khác, tôi tham khảo cả hai trước khi đưa ra quyết định về các vấn đề của nhà nước, đôi khi ngoài lời khuyên của Nechung, tôi cũng xem xét một số lời tiên tri nhất định.
Về một khía cạnh nào đó, trách nhiệm của Nechung và trách nhiệm của Đức Dalai Lama đối với Tây Tạng là như nhau, mặc dù chúng tôi hành động theo những cách khác nhau. Nhiệm vụ của tôi đó là sự lãnh đạo, là hòa bình và đem lại phúc lợi cho mọi người. Tuy nhiên, mặc dù các chức năng của chúng tôi tương tự như nhau, mối quan hệ của tôi với Nechung là người lãnh đạo tinh thần. Tôi không bao giờ cúi đầu trước ngài ấy (Nechung) mà để Nechung cúi đầu trước Đức Dalai Lama. Vậy mà chúng tôi rất thân gần gũi với nhau. Điều cảm động khi tôi còn nhỏ, Nechung rất mến và luôn chăm sóc tôi rất nhiều. Ví dụ, nếu Nechung nhận thấy rằng tôi ăn mặc bất cẩn hoặc không đúng cách, ngài ấy sẽ đến và điều chỉnh lại chiếc y của tôi.v.v...
Nechung luôn thể hiện sự tôn trọng đối với tôi, ngay cả khi mối quan hệ của ngài ấy với Chính phủ đã xấu đi, như họ đã làm trong những năm cuối cùng của nhiếp chính, ngài ấy luôn trả lời nhiệt tình bất cứ khi nào tôi hỏi điều gì. Đồng thời, Nechung trả lời các câu hỏi đôi khi ngài ấy chỉ đáp lại bằng một tràng cười nhẹ. Tôi nhớ rất rõ một sự cố cụ thể xảy ra khi tôi khoảng mười bốn tuổi, Nechung đã hỏi một câu hỏi về Trung Quốc. Thay vì trả lời trực tiếp, Kuten quay về hướng Đông và bắt đầu cúi xuống vô cùng lo ngại. Thật đáng sợ khi nhìn thấy động tác chuyển động này kết hợp với trọng lượng của chiếc mão to lớn mà ngài đang đội trên đầu có thể làm gãy cổ của Nechung. Nechung đã làm điều đó ít nhất mười lăm lần, làm cho mọi người không ai biết được mối nguy hiểm này nằm ở chỗ nào.
Để diện kiến Nechung không phải gặp lúc nào cũng được, mà phải mất nhiều thời gian và sự kiên nhẫn khi ngài ấy cho phép mới được gặp. Nechung rất kín đáo và nghiêm khắc, giống như bạn tưởng tượng về một bậc danh nhân vào thời xưa. Ngài ấy cũng không bận tâm đến những vấn đề nhỏ, mà mối quan tâm của Nechung chỉ ở những vấn đề lớn hơn, vì vậy cần phải được trả lời cho các câu hỏi thích hợp. Nechung cũng có những điều thích và không thích nhất định.
Nechung có tu viện riêng của mình ở Dharmsāla, nhưng thường thì ngài đến gặp tôi vào những dịp trang trọng, Kuten mặc một bộ trang phục rất nghiêm trang bao gồm nhiều lớp y phục được đắp bởi một chiếc y vải thổ cẩm được dệt từ lụa vàng trang trí công phu, nó được bao phủ bởi các thiết kế cổ xưa có màu đỏ, xanh dương và vàng. Trên ngực của ngài đeo một chiếc gương tròn được bao quanh bởi các cụm màu ngọc lam và thạch anh tím, cùng với sự bóng loáng của thanh gươm nhấp nháy với câu Thần chú tiếng Phạn tương ứng với Dorje Drakden.[14]
Trước khi bắt đầu thực hiện nghi thức, Nechung mặc một loạty phục, hỗ trợ bốn lá cờ và ba biểu ngữ chiến thắng. Nhìn chung, bộ trang phục này nặng hơn bảy mươi cân, khó có thể di chuyển trừ khi  ở trong trạng thái thôi miên.
Buổi lễ bắt đầu với những câu Thần chú và lời cầu nguyện, kèm theo sự trỗi lên của tiếng kèn, chũm chọe và trống. Sau một thời gian ngắn, Kuten đi vào trạng thái thôi miên, được sự hỗ trợ bởi các thị giả của ngài, họ đã giúp Kuten ngồi trên một chiếc ghế nhỏ đặt trước ngai vàng của tôi. Sau đó, khi vòng cầu nguyện đầu tiên kết thúc và lần thứ hai bắt đầu thì trạng thái thôi miên của Kuten đã đi vào sâu hơn. Lúc này, một chiếc mão to lớn được đội trên đầu của Kuten. Vật phẩm này ước chừng nặng ba mươi cân, mặc dù trước đây nó nặng hơn bảy mươi.
Bây giờ sắc mặt của Kuten có sự biến đổi, trở nên hơi căng thẳng tạo sự kỳ lạ từ dáng vẻ bên ngoài với đôi mắt lồi và má sưng. Tiếp theo, Kuten nhảy lên và bắt lấy một thanh kiếm nghi thức từ một trong những người thị giả của mình rồi nhảy với những bước chậm rãi, trang nghiêm. Sau đó Kuten đến trước mặt tôi và lễ lạy hoặc xá một cách thật sâu cho đến khi chiếc mão của Ngài chạm đất trước khi nhấc lên lại.Sau đó là một cuộc đàm luận giữa Nechung và tôi về lễ nghi mà Nechung cúng cho tôi, tiếp theo là tôi hỏi bất kỳ câu hỏi cá nhân nào và Nechung đã trả lời trong tinh thần hòa nhã cung kính, rồi sau đó ngài trở lại chỗ ngồi của mình và lắng nghe những câu hỏi của các thành viên Chính phủ. Trước khi đưa ra câu trả lời, Kuten bắt đầu nhảy lại, vung thanh kiếm trên đầu, Nechung trông giống như một thủ lĩnh chiến binh Tây Tạng tráng lệ và hùng dũng.
Ngay khi Dorje Drakden nói xong, Kuten đưa ra lời đề nghị cuối cùng trước khi ngã quỵ xuống trong một hình thức nghiêm khắc và bất động, nhằm biểu thị sự chấm dứt của chủ quyền. Đồng thời, nút thắt giữ chiếc mão của ngài được tháo ra khẩn cấp bởi các người thị giả và họ dìu Nechung ra ngoài để phục hồi, trong khi buổi lễ vẫn đang tiếp tục diễn ra.
Hiện tại là nhà Tiên tri Ven. Thupten Ngodup,[15] sinh ngày 13 tháng 7 năm 1958 tại Phari, Tây Tạng đang sống ở Dharmsāla, miền bắc Ấn Độ.

5.4. Đức Sogyal Rinpoche, người truyền cảm hứng trong lộ trình sinh thuận tử an
Đức Sogyal Rinpoche (1947-2019) sinh tại tỉnh Kham (Tib. ཁམས, khams; CN. 康 巴) ở miền đông Tây Tạng, ngài được công nhận từ khi còn nhỏ là hóa thân của một vị thầy vĩ đại và vị thánh có tầm nhìn của thế kỷ XIX, Tertön Sogyal Lerab Lingpa (Tib. གཏེར་སྟོན་བསོད་རྒྱལ་ལས་རབ་གླིང་པ་, 1856-1926), một vị thầy của Đức Dalai Lama thứ XIII.
Ngài đã được đào tạo trong truyền thống về một Lạt-ma Tây Tạng dưới sự giám sát chặt chẽ của Jamyang Khyentse Chökyi Lodrö (Tib. འཇམ་དབྱངས་མཁྱེན་བརྩེ་ཆོས་ཀྱི་བློ་གྲོས་, 1893-1959) một trong những bậc thầy tâm linh nổi bật nhất của thế kỷ XX, người đã nuôi dưỡng Rinpoche giống như đệ tử của mình. Ngài tiếp tục học với nhiều bậc thầy vĩ đại khác, trong tất cả các tông phái Phật giáo Tây Tạng, đặc biệt là Dudjom Jikdral Yeshe Dorje (Tib. བདུད་འཇོམས་འཇིགས་བྲལ་ཡེ་ཤེས་རྡོ་རྗེ་, 1904-1987) và Dilgo Khyentse Rinpoche (Tib. དིལ་མགོ་མཁྱེན་བརྩེ་རིན་པོ་ཆེ་,1910-1991).
Năm 1971 Rinpoche đến nước Anh, nơi mà ngài học Tôn giáo so sánh tại Đại học Cambridge. Đầu tiên với tư cách là dịch giả và phụ tá cho các bậc thầy đáng kính của ngài, sau đó giảng dạy theo phong cách riêng của mình. Rinpoche đi đến nhiều quốc gia để quan sát thực tế cuộc sống của mọi người và tìm cách phiên dịch các giáo lý của Phật giáo Tây Tạng để làm cho chúng phù hợp với tín ngưỡng của con người trong thời hiện đại, bằng cách đúc kết lại những gì tinh túy nhất để mọi người có thể áp dụng tu tập tâm và chuyển hóa tâm trong đời sống thường nhật của họ.
Từ những phương pháp giảng dạy độc đáo của người và khả năng tiếp thu những giáo lý này trong cuộc sống, được thể hiện rất sinh động trong cuốn sách sáng giá, đó là “Tạng thư sống chết”[16] (The Tibetan Book of Living and Dying). Hơn ba triệu phiên bản được ấn tống bằng 34 thứ tiếng khác nhau và hiện đã có mặt tại 80 quốc gia.
Hơn thế nữa, Sogyal Rinpoche đã thành lập Rigpa,[17] một hệ thống trung tâm và các nhóm cung cấp những lời dạy của Đức Phật thông qua các khóa học và hội thảo về Thiền định (P. Samatha) và Từ bi (S. Maitrī-karuṇā; Tib. བྱམས་པ་སྙིང་རྗེ་, Jampa nyingjé), cũng như con đường tu tập và thực hành hoàn thiện theo mọi giai đoạn của những lời Đức Phật dạy. Rinpoche đã cống hiến trí tuệ của mình cho việc giảng dạy hơn 40 năm ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á  và Châu Úc với sứ mệnh đem lại lợi lạc cho hữu tình chúng sinh. Ngài đã nghỉ hưu với tư cách là Giám đốc Tâm linh của Rigpa năm 2017. Kể từ khi Sogyal Rinpoche nghỉ hưu, Rigpa vẫn tiếp tục cung cấp các khóa học, chương trình, hội thảo và khóa tu do các giáo viên và người thầy hướng dẫn, cũng như thăm viếng các vị Thầy và Lạt ma, đặc biệt là từ truyền thống Nyingmapa cổ xưa của Phật giáo Tây Tạng.
Một ngày vào mùa Thu 28 tháng 8 năm 2019, Đức Sogyal Rinpoche đã xả bỏ báo thân ở tuổi 72.

Tóm lại: Nhìn chung, người Tây Tạng cho rằng khi vị Lạt-ma thứ nhất viên tịch, ngài phát lời nguyện sau khi xả bỏ báo thân này sẽ tiếp tục tái sinh để hoàn thành sứ mệnh trong kiếp lai sinh. Trong lúc tẫn liệm hay nhập kim quan các đệ tử của Đức Dalai Lama đã sắp xếp những đồ dùng thường nhật của ngài và an trí chôn cất cùng với thầy của mình.
Hai năm sau đó, họ bắt đầu tìm kiếm nơi tái sinh của vị Dalai Lama được xác định bởi một hài nhi khoảng hai tuổi ở vùng Tsang, người từ khi vừa bập bẹ biết nói đã yêu cầu cha mẹ gọi mình bằng cái tên của Dalai Lama đời thứ nhất. Hài nhi đó chỉ ra những món đồ của Dalai Lama đời trước trong số các món đồ được trộn lẫn (xâu chuỗi hoặc bất kỳ một di vật nào đó). Đây là một phương pháp đặc thù trong Phật giáo Tây Tạng, khi vị Lạt-ma chọn cách thức nhập thể tái sinh. Trong những cống hiến tâm linh to lớn của các vị Lạt-ma trong truyền thống Gelugpa đối với sự phát triển Phật giáo Tây Tạng, bằng tất cả nguyện lực các ngài luôn dấn thân trong đời để phụng vụ, đem lại phúc lợi cho đất nước và con người Tây Tạng nói riêng, cũng như truyền cảm hứng năng lượng bình an cho chúng sinh nói chung.
Qua đó, Đức Dalai Lama và Đức Panchen Lama được xem là hai vị Phật sống của Phật giáo Tây Tạng. Đức Dalai Lama là biểu tượng của lòng từ bi và yêu thương, trí tuệ tựa như đại hải là hóa thân của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Đức Panchen Lama được coi là hóa thân của Đức Phật A Di Đà là biểu tượng của hạnh nguyện đại trí, đại hùng và đại lực. Nhà tiên tri Nechung người đảm nhận vai trò như một bác sĩ tinh thần làm cầu nối giữa các cõi tự nhiên và tâm linh. Cùng với tư tưởng “Tạng thư sống chết”, mọi người hãy chọn cho mình sự an lành thảnh thơi trong tương lai. Tất cả những thông điệp phúc lợi hòa bình mang đến cho nhau không ngoài mục đích nhằm kiến tạo một cõi thánh thiện trong cuộc đời này.  

Tài liệu tham khảo và chú thích:

[1] Sơ tổ Tông-khách-ba (1357-1419) nhị tổ Gyaltsab Je (1364-1431) và tam tổ Khedrup Gelek Pelzang (1385-1438). Giống như Phật giáo Việt Nam có Thiền phái Trúc lâm, do Đức vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sáng lập. Thiền phái Trúc Lâm có ba Thiền sư kiệt xuất là sơ tổ Nhân Tông (Trúc Lâm Đại Đầu Đà), nhị tổ Pháp Loa (1284-1330) và tam tổ Huyền Quang (1254-1334). Xem thêm Thích Phước Sơn (dịch và chú giải),  Tam Tổ Thực Lục, Nxb: Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1995.
[2] Lhamo Thondup có nghĩa đen là “nữ thần hoàn thành ước nguyện”. Xem Thondup, Gyalo; Thurston, Anne F., The Noodle Maker of Kalimpong: The Untold Story of My Struggle for TibetGurgaonRandom House Publishers India Private Limited. 2015, tr. 20. (Lama Thubten đặt tên cho người đệ tử mới của ngài là Lhamo Thondup).
[3] Thuật ngữ Dalai Lama ban đầu là một danh hiệu của vị đại Lạt-ma thuộc tông phái Gelugpa của Phật giáo Tây Tạng. Nó được tạo thành từ tiếng Mông Cổ Dalai (tức là rộng lớn hoặc đại dương) và từ Tây Tạng Bla-ma (tức là bậc thầy tâm linh) có nghĩa là người thầy tâm linh giống như đại dương. Vì vậy, thuật ngữ Dalai Lama có nghĩa là người thầy toàn cầu hoặc người thầy toàn thế giới. Dalai Lama là biểu hiện lòng từ bi của Bồ tát, là Hóa thân của Quán Thế Âm Bồ tát (Avalokiteśvara Bodhisattva), tiếng Tây Tạng gọi là Chenrezig (Tib. སྤྱན་རས་གཟིགས་), hiện tại là Đức Dalai Lama thứ  XIV.
[4] Xem Rahul, Ram, “The Institution of Dalai Lama”, International Studies, vol. 10, no.4, April, 1969, tr. 499.
[5] Thuật ngữ được dùng để chỉ tập hợp các giáo lý Phật giáo về nhận thức luận. Xem thêm Georges B. J. Dreyfus, Recognizing Reality: Dharmakīrti’s Philosophy and Its Tibetan Interpretations, suny, 1997, các tr. 366-378.
[6] Một trong ba Thánh nhân người châu Á của thế kỷ thứ 20 đó là cố thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore (1861-1941), Mahatma Gandhi (1869-1948) và Đức Dalai Lama thứ XIV.
[7] Richardson, H.E., Tibet and its History, London: Oxford University Press, 1962, tr. 164.
[8] Kenneth Kraft, Inner Peace, World Peace: Essays on Buddhism and Nonviolence, Published by State University of New York Press, Albany, 1992, tr. 86.
[9] Department of Information and International Relations, Central Tibetan Administration, The Panchen Lama: Politics Intruding on a Religious Discovery, DIIR Publications, Dharmsāla.
[10] The Panchen Lama lineage “How reincarnation is being reinvented as a Political tool”, Published by Department of Information and International Relations Central Tibetan Administration Gangchen Kyishong, Revised and updated August 2015, tr. 51.
[11] His Holiness Tenzin Gyatso The Dalai Lama, Freedom In Exile: The Autobiography of the Dalai Lama, Publisher: harperperennial, 1992, các tr. 233-236.
[12] Nội các là cơ quan thực hiện quyền hành pháp của một nước. Xem Viện Khoa Học Pháp Lý - Bộ Tư Pháp, Từ Điển Luật Học, Nxb: Từ điển Bách Khoa; Nxb: Tư pháp, 2006, tr. 357.
[13] Kashag(Tib. བཀའ་ཤག; CN. 噶 廈 - Cát hạ) nghĩa là các cố vấn Hội đồng quản trị của Chính phủ Tây Tạng lưu vong. Xem Dr. N. Subramanya, Human Rights and Refugees, A.P.H Publishing Corporation 5, Ansari Road, Darya Ganj New Dehli-110002, 2005,  tr. 61.
[14] Dorje Drakden là hậu thân của Pehar, vị Thần bảo hộ Phật giáo Tây Tạng. Xem thêm Christopher Paul Bell, Nechung: The Ritual History and Institutionalization of a Tibetan Buddhist Protector Deity, University of Virginia, 2013, các tr. 36-58.
[15] Ven. Thupten Ngodup xuất gia năm 1971, đệ tử của Đạo sư Mật tông nổi tiếng, Nga-dak Nyang-relwa (1136 - 1204). Năm 1984 Ven. Lobsang Jigme viên tịch, ngài là người kế vị Nechung vào năm 1987. Xem thêm Lezlee Brown Halper, Stefan Halper, Tibet: An Unfinished Story, Oxford University Press, 2014, tr. 345.
 [16] Xem Thích Nữ Trí Hải (dịch), Tạng Thư Sống Chết, Nxb: Thanh Văn Hoa Kỳ, 1992 và Nxb: Xuân Thu Hoa Kỳ, 1996.
[17] Rigpa (Tib.  རིག་པ་; S. Vidyā) là một từ Tây Tạng, có nghĩa là ‘Trí tuệ’. Xem Tenzin Wangyal Rinpoche, The Tibetan Yogas of Dream and Sleep, Snow Lion Publications Ithaca, New York, 1998, các tr. 143-146.

Các tin khác

Nghe nhiều

Lịch

THỐNG KÊ

Đang truy cập 10
Hôm nay 43
Hôm qua 53
Trong tuần 236
Trong tháng 667
Tổng truy cập 2165588