Môn Phong Tổ Đình Long Thiền,monphongtodinhlongthien.vn,monphongtodinhlongthien

NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA TÔNG PHÁI GELUGPA TRONG PHẬT GIÁO TÂY TẠNG - THÍCH NGUYÊN ĐỊNH

(Tiếp theo) Những đặc tính của Tông phái Gelugpa trong Phật giáo Tây Tạng
1.5. Ngài Tông-khách-ba và Mật tông
Ngài Tông-khách-ba khi trở về tu viện Reting, đã viết một bài bình luận cho "năm mươi khổ thơ về Thầy" để củng cố tối cao sự tận tâm trong Mật tông. Theo nhiều yêu cầu, ngài Tông-khách-ba đã viết "Sự thể hiện tuyệt vời của Mật ngôn", và phần tiếp theo của sự thể hiện tuyệt vời trước đó của ngài, đối với con đường từ quan điểm mà bài luận trước đã hoàn thiện cho đến kết quả của sự giác ngộ.

Tư tưởng Trung luận (Mūlamadhyamakakārikā) của ngài Long Thọ (Nāgārjuna) rất khó hiểu và Tông-khách-ba khi ở tuổi gần năm mươi, đã được yêu cầu viết lời giảng giải về tư tưởng này. Cũng trong thời gian đó, khi bức thư của Hoàng đế Trung Quốc gửi đến Tông-khách-ba yêu cầu ngài đến thăm Trung Quốc và tham gia ở đó với tư cách là một người Thầy tâm linh tôn kính. Nhưng ngài Tông-khách-ba đã từ chối lời đề nghị đó với lý do về tuổi già.

Khi rời Choding, ngài Tông-khách-ba đã hỏi hai đệ tử của mình về niềm mong ước cho buổi khai mạc Lễ hội cầu nguyện vĩ đại (Mönlam) [1] tại Lhasa.

"Mục đích chính của Lễ hội cầu nguyện vĩ đại là cầu nguyện cho sự sống lâu dài các bậc Thầy tôn kính của tất cả các truyền thống, cho sự tồn tại và truyền bá Phật pháp trong tâm trí của tất cả chúng sinh cũng như cho sự hòa bình thế giới. Những lời cầu nguyện chung, lòng tôn kính cùng với niềm tin và sự tận tâm mạnh mẽ, giúp vượt qua những trở ngại cho hòa bình và tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người sống hòa thuận."[2]

Ngài Tông-khách-ba cũng đã hướng dẫn cho việc chuẩn bị những phẩm vật cúng dường. Vào năm 1409, ở tuổi 52, Tông-khách-ba đã tập hợp 8000 vị tu sĩ ở Lhasa và đã dâng cúng một bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng vàng tốt,  thực hiện theo lời tiên tri của đức Phật. Đây là lần thứ ba trong bốn việc làm  chính yếu của ngài.

Khi kết thúc lễ hội cầu nguyện vĩ đại mang tên "Mönlam", các đệ tử của ngài Tông-khách-ba đã quyết định rằng, bây giờ sẽ không đắn đo gì nữa khi nhìn thấy Thầy của mình chưa có chỗ ở ổn định. Do đó, họ đề nghị xây dựng cho ngài Tông-khách-ba một tu viện bất cứ nơi nào mà ngài tùy thích chọn. Sau khi ngài Tông-khách-ba nhận được sự hướng dẫn từ các vị thần trong giấc mơ của mình, đã quyết định xây dựng một tu viện ở núi Drogri. Nơi này cũng đã được nói đến trong lời tiên tri của đức Phật. Tu viện được xây dựng và nó được đặt tên là Ganden (Tib. ལྡན་དགོན་པ), tên tương đương của Tây Tạng gọi là Tuṣita - nơi ở của đức Phật Di Lặc. Ngài Tông-khách-ba đã đi đến địa điểm này với một trong những đệ tử của ngài là Gendre Drub, sau đó được công nhận là Đức Đạt-lai Lạt-ma đầu tiên. Tu viện Ganden được xây dựng đúng theo quy tắc giới luật (Vinaya).

Như hình dưới đây mô tả về một Maṇḍala (Tib. དཀྱིལ་འཁོར།). Maṇḍala là gì? Maṇḍala là một ngôi nhà của một vị thần nơi để thực hiện sự cúng dường của ngài. Maṇḍala tiếp theo là của Kālachakra (Tib. དུས་ཀྱི་འཁོར་ལོ།), đó là nét đặc trưng nổi bậc của Đức Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ XIV chỉ để truyền Mật ấn. Do đó Maṇḍala có nhiều loại khác nhau và trong tất cả các tông phái của Phật giáo ở Tây Tạng.




Vào năm 1410, Ngài Tông-khách-ba đã đưa ra một loạt các bài giảng đầu tiên về giáo lý Lam-rim [3] (các giai đoạn của con đường) ở Ganden về Guhyasamajtantra (Tib. གསང་བ་འདུས་པ་), và về "bản tóm tắt kiến thức" của Ngài Vô trước (S. Asaṅga; Tib. ཐོགས་མེད།) . Vào năm 58 tuổi, ngài Tông-khách-ba đã viết một bài bình luận về Cakrasaṃvara (S. Hevajra Tantra; Tib. ཀྱེ་རྡོ་རྗེའི་རྒྱུད་, ཀྱཻ་རྡོ་རྗེ་རྒྱུད་) của Lauhapada. 
 
Như Buswell phát biểu: "Ở Tây Tạng, Mật tông có ảnh hưởng rất lớn, xếp hạng tầm quan trọng với Mật tông Hevajra, Mật tông Cakrasaṃvara và Mật điển Kalachakra ."[4]

Ngài Tông-khách-ba đã quyết định tạc một bức tượng đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại Ganden. Các nghi thức tấn phong đã được chuẩn bị chu đáo; chánh điện chính của Ganden và việc xây dựng các hình tượng khác nhau đã được an trí hoàn thiện, và đây cũng được xem là việc làm lớn thứ tư của ngài Tông-khách-ba.

Vào năm 1418 ở tuổi 61, ngài Tông-khách-ba đã có những bài thuyết trình sâu rộng và viết một bài bình luận "Hướng dẫn về lối vào Trung đạo" (A Guide to the Entrance of Middle way). Các tác phẩm hoàn chỉnh của ngài được chứa đựng đầy đủ trong mười tám tập. 

Ở tuổi 62, vào năm Hợi, Ngài Tông-khách-ba rời khỏi cơ thể phàm trần trong tư thế hoa sen tại tu viện Ganden. Cả một cuộc đời hành đạo, sự nghiệp hoằng pháp của ngài là những lời vàng ngọc quý báu để cho tất cả đồ chúng noi theo, trong việc kế thừa và xiển dương tông phái này. Cùng với quan điểm đó, chúng ta có thể nhìn nhận về tư tưởng minh triết của ngài Long Thọ [5](Nāgārjuna) và ngài Vô Trước [6] (Asaṅga). Cho thấy rằng, tư tưởng của các Ngài đại biểu cho  nguồn cội không chỉ lịch sử triết lý Ấn Độ mà còn tất cả lịch sử triết học nói chung.

Ngay cả sau khi viên tịch, Ngài Tông-khách-ba vẫn tiếp tục dạy bảo đệ tử của mình, bằng cách xuất hiện trong những giấc mơ của họ. Khedrubje, một trong hai đệ tử xuất sắc của Ngài Tông-khách-ba, đôi lúc gặp phải khó khăn trong khi giải thích các bản văn của thầy mình, và Khedrubje đã trông thấy bậc Thầy trí tuệ xuất hiện nhắc lại rất nhiều lần như vậy.

Sự kiện được chấp nhận giữa các học giả và cộng đồng Tây Tạng rằng, ba người đóng góp vĩ đại trong Biên niên sử của đất nước là: Đại sư Liên Hoa Sinh (Tib. པད་མ་སམ་བྷ་ཝ་པད་མ་འབྱུང་གནས་, Guru Rinpoche Padmasambhava), Đại sư A-đề-sa (Tib. ཇོ་བོ་རྗེ་དཔལ་ལྡན་ཨ་ཏི་ཤ།, Atisha Dīpaṃkara Śrījñāna) và Đại sư Tông-khách-ba (Tib. བཙོང་ཁ་པ་, Tsong Khapa), tất cả đều xuất hiện khi cần một bậc Thầy vĩ đại [7].

Tài liệu tham khảo:
[1] 
Staff (2004/5). "Monlam Chenmo in Kopan (20-24 Feb. 2005)" (PDF). Kopan Monastery. Retrieved 2020-02-24.
[2] Robert E. Buswell Jr., Donald S. Lopez Jr., The Princeton Dictionary of Buddhism (Princeton: 2014), entry for Guhyasamājatantra.

 
Chú thích:
[1] Mönlam (Tib. སྨོན་ལམ་ཆེན་མོ་) còn được gọi là Lễ hội cầu nguyện vĩ đại, rơi vào ngày 4-11 của tháng 1 Tây Tạng trong Phật giáo Tây Tạng.
[2] Staff (2004/5). "Monlam Chenmo in Kopan (20-24 Feb. 2005)" (PDF). Kopan Monastery. Retrieved 2020-02-24.
[3] Lam-rim (Tib. ལམ་རིམ་)  (Sự thể hiện tuyệt vời của con đường được phân loại để giác ngộ) là một hình thức văn bản Phật giáo Tây Tạng để trình bày các giai đoạn trong con đường hoàn chỉnh đến giác ngộ như Đức Phật đã dạy. Trong lịch sử Phật giáo Tây Tạng, đã có nhiều phiên bản khác nhau của Lam-rim, được trình bày bởi các vị Lạt-ma (བླ་མ་) khác nhau của các Tông phái Nyingmapa (Ninh-mã phái), Kagyupa (Ca-nhĩ-cư phái) và Gelugpa (Cách-lỗ phái).
[4] Robert E. Buswell Jr., Donald S. Lopez Jr., The Princeton Dictionary of Buddhism (Princeton: 2014), entry for Guhyasamājatantra.
[5] Ngài Long Thọ  (khoảng 150 - 250 Tây lịch) được cho là nhà tư tưởng Phật giáo Ấn Độ có ảnh hưởng nhất sau đức Phật thích Ca Mâu Ni, người thành lập trường phái Madhyamaka (Trung đạo) của Phật giáo Đại thừa (Mahāyāna). Ngài có công viết ra những giải trình hùng hồn nhất về Śūnyatāvada (học thuyết về tánh không), là người đầu tiên đề xuất học thuyết nhị đế, và là một Viện trưởng của trường Đại học Phật giáo nổi tiếng, Nalanda.
[6] Ngài Vô Trước (khoảng thế kỷ thứ 4 Tây lịch) là một trong những nhân vật tinh thần quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa và là người sáng lập trường phái Du già (Yogācāra). Theo truyền thống, ngài và em trai cùng cha khác mẹ của mình là Thế Thân (Vasubandhu) được coi là những vị Luận sư tiếng Phạn cổ điển Ấn Độ của tư tưởng Đại thừa (Mahāyāna), A-tì-đạt-ma (Abhidharma), Duy thức (Vijñanavada) và giáo lý Đại thừa về Bồ tát đạo.
[7] Đó là vị vua thứ 37 của Tây Tạng, Ngật-lật-song Đề-tán (Trisong Detsen), người đầu tiên mời ngài Tịch Hộ (Shantirakshita) đến Tây Tạng. Vào thời điểm đó, có nhiều thế lực tà ác ở Tây Tạng phẫn nộ mạnh mẽ sự xuất hiện của học thuyết Phật giáo ở đó, cho nên, những trở ngại và tai họa đã xảy ra. Ngài Tịch Hộ khuyên vua nên mời Đại sư Liên Hoa Sinh, người đã đến và khuất phục những thế lực xấu ác này, và sau đó yêu cầu vua xây dựng Tu viện đầu tiên ở Samye (Tib. བསམ་ཡས་), phía nam Lhasa. Sau sự đàn áp của Giáo lý bởi vua Lang Dharma (Tib. གླང་དར་མ་འུ་དུམ་བཙན), đã có một thời kỳ ở Tây Tạng khi một hình thức tôn giáo rất suy đồi được thực hành. Trong thời gian này, không ai có thể tìm thấy sự tương thích giữa các hệ thống Kinh điển (Sutra) và Mật tông (Tantra), được coi là một sự phân đôi không thể hòa giải. Chính Đại sư A-đề-sa đã xua tan những quan điểm như vậy và bắt đầu truyền thống Cam - Đam Phái (Kadampa). Sau này, khi mọi người không thể thấy được việc nghiên cứu và thực hành yoga như thế nào để được hợp nhất, ngài Tông-khách-ba đã đến và chỉ dạy thực hành chánh đạo, thành lập tu viện Ganden và bắt đầu Tông phái Gelugpa, nơi có số lượng tín đồ lớn nhất so với ba Tông phái khác.
 

Các tin khác

Nghe nhiều

Lịch

THỐNG KÊ

Đang truy cập 4
Hôm nay 45
Hôm qua 69
Trong tuần 45
Trong tháng 1744
Tổng truy cập 2181671