Môn Phong Tổ Đình Long Thiền,monphongtodinhlongthien.vn,monphongtodinhlongthien

NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA TÔNG PHÁI GELUGPA TRONG PHẬT GIÁO TÂY TẠNG - THÍCH NGUYÊN ĐỊNH

(Tiếp theo) Những đặc tính của Tông phái Gelugpa trong Phật giáo Tây Tạng
1.6. Những tháng ngày cuối cùng của bậc Thầy vĩ đại Tông-khách-ba
Vào khoảng 55 tuổi, Ngài Tông-khách-ba bắt đầu nhận được những dấu hiệu xấu về sức khỏe. Để báo đền ơn đức giáo dưỡng của bậc Thầy vĩ đại trong nhiều năm giảng dạy Phật pháp, những người đệ tử đã thực hiện các nghi lễ và dị khẩu đồng âm cầu nguyện cho sức khỏe và cuộc sống lâu dài của ngài. Nhưng bất chấp những lời cầu nguyện đó, những điềm báo vẫn tồn tại và Ngài Tông-khách-ba nhận ra rằng cuộc sống của mình đang dần khép lại. Ở tuổi 62, nhận thức được rằng mình sẽ sớm viên tịch, ngài đã thuyết ra những lời chỉ dạy cuối cùng cho các đệ tử của mình, tóm tắt những hiểu biết sâu sắc và nguồn gốc về tư tưởng và thực hành Phật giáo của ngài. Trong chánh điện chính của Ganden, ngài đã cử hành một nghi thức về công đức mà ngài đã dành cho tất cả chúng sinh. Kết thúc buổi lễ, ngài Tông-khách-ba tụng bài kinh cầu nguyện tái sinh lên cõi trời Đâu-suất (Tuṣita). Sau đó, ngài thị hiện về các dấu hiệu đau lưng và bệnh tật. Để báo đáp ơn đức của Thầy, những vị đệ tử cùng tập hợp để thực hiện các phương thức chữa trị và kéo dài thọ mạng bậc Thầy mô phạm của họ.

Ngày hôm sau, sức khỏe của ngài Tông-khách-ba trở nên xấu hơn, và ngài đã dạy các đệ tử của mình rằng: "Các con nên phụng sự cống hiến hết mình cho việc tu tập tâm, chuyển hóa tâm và giác ngộ". Sau đó người Thầy vĩ đại nhập thất để thực hành Mật tông, đặc biệt là thiền định liên quan đến Heruka (Tib. ཁྲག་འཐུང་). Vào buổi sáng, ngày 20 tháng 10 ngài bắt đầu quán chiếu về sự rỗng không (sūnyāta) và ngài tiếp tục quán chiếu sâu sắc về bản chất cuối cùng của hiện tượng.

Trước lúc viên tịch, ngài Tông-khách-ba đã trao Mũ và Y cho Gyaltsab (Tib. རྒྱལ་ཚབ་རྗེ་, 1364-1432), người giữ ngôi vị Ganden trong 12 năm sau đó. Điều này đã bắt đầu truyền thống của người giữ ngôi vị Ganden là người đứng đầu phái Gelugpa. Người kế vị tiếp theo là Khédrub (Tib. མཁས་གྲུབ་རྗེ་, 1385-1438), mà sau này có năm tầm nhìn về người Thầy vĩ đại của mình, Khédrub luôn làm rõ những nghi ngờ và trả lời các câu hỏi của chính mình. Kể từ đó Tông phái Gelugpa đã phát triển mạnh mẽ về sau.

1.7. Sự tiếp nối của truyền thống Tông-khách-ba
Sự nghiệp của ngài Tông-khách-ba đã được tiếp tục bởi hai đệ tử vĩ đại nhất của ngài là Gyeltsap và Kédrup. Theo yêu cầu của các đệ tử khác, Gyeltsap đã được bổ nhiệm ngôi vị của Ganden, cho thấy rằng ngài được công nhận là người kế vị chính của phái Tông-khách-ba, và ngài giữ chức vị này trong 12 năm cho đến khi viên tịch. Gyeltsap đã soạn một số chuyên luận quan trọng và các tác phẩm thu thập của ngài được biên tập thành tám quyển. Gyeltsap đã thành công với tư cách là người nắm giữ ngôi vị Ganden bởi Kédrup, người đã giữ chức vị này trong bảy năm cho đến khi ngài viên tịch ở tuổi 44. Nhị vị Lạt ma  (Tib. བླ་མ་) này được xem là "người con tinh thần" của ngài Tông-khách-ba và thường được miêu tả ngồi ở hai bên người thầy Bổn sư của họ trong Tankas (Tib. ཐང་ཀ་) và các bức tranh tôn giáo khác. Như hình dưới đây mô tả về ngài Tông-khách-ba và hai đệ tử vĩ đại nhất của mình, Gyeltsap và Kédrup.

 
                 Ngài Tông-khách-ba và hai đệ tử vĩ đại, Gyeltsap và Kédrup.
 
Trong những thế kỷ tiếp theo, sự thuận lợi của phái Gelugpa tăng lên nhanh chóng, chủ yếu là các vị Lạt ma tiếp tục truyền bá và xiển dương những tư tưởng của tông phái, tạo nên một số ấn tượng tốt đẹp đến các học giả nổi tiếng và các nhà thông tuệ Mật tông. Đặc biệt, phái Gelugpa chủ yếu nổi tiếng vì tuân thủ nghiêm ngặt giới luật tu viện, các học giả thành đạt và khóa tu thiền định chuyên sâu. Cũng như các vị Lạt ma, người lãnh đạo tối cao của phái Gelugpa tiếp tục được đón nhận sự vinh danh về người "thầy thông tuệ"; giới luật của tu viện và thành tựu Mật tông. Tông phái cũng sẵn sàng đón nhận một số lượng lớn những người hữu duyên phát tâm xuất gia trở thành tu sĩ, và xây dựng nhiều tu viện mới, như Tashi Lhünpo [1], được thành lập vào năm 1445 bởi Gendün Druba (དགེ་འདུན་གྲུབ་པ།, 1391–1474). Tu viện này sau đó trở thành trung tâm của Ban Thiền Lạt ma (Panchen Lama), người chỉ đứng thứ hai sau đức Đạt-lai Lạt-ma (Dalai Lama) về uy tín theo thứ tự Gelugpa. Các tổ chức tu viện Gelugpa phát triển và hưng thịnh, và những điều này bắt đầu thu hút sinh viên từ khắp nơi trong khu vực văn hóa Tây Tạng.

Vào thế kỷ XVI, tông phái Gelugpa có tầm ảnh hưởng rộng rãi đến khắp nơi, do kết quả của việc tìm thấy Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ ba trong số những người Mông Cổ. Sönam Gyatso (Tib. བསོད་ནམས་རྒྱ་མཚོ་, 1543–1588), người được các vị Rinpoche [2] của phái Gelugpa công nhận là Đạt-lai Lạt-ma thứ ba và cũng là cháu trai của A Nhĩ Thản Hãn (Altan Khan) [3], một trong những thủ lĩnh Mông Cổ hùng mạnh nhất. Sau đó bổ nhiệm La-bốc-tạng Gia-mục-thố (Ngawang Losang Gyatso, 1617–1682), Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ năm, làm đạo sư tôn quý và tinh thần của Tây Tạng. Bên cạnh đó, phái Gelugpa có thể lập ra một sự kế thừa của các nhà lãnh đạo tôn giáo nổi tiếng, những người thể hiện lý tưởng của sự thông thái và thực hành thiền định do ngài Tông-khách-ba khởi xướng. Trong số này có học giả nổi tiếng Jamyang Shéba (Tib. འཇམ་དབྱངས་, 1648–1721), người đã viết một số tài liệu học thuật Gelugpa có ảnh hưởng nhất, và tái sinh Gönchok Jikmé Ongpo (1728–1791), cũng là người được biết đến nhiều nhất với "Vòng hoa quý báu" (Eng. Precious Garland; Tib. རིན་ཆེན་ཕྲེང་བ་) của những bài giáo lý và tác phẩm tinh thần của Ngài về các cấp bậc Bồ-tát và năm con đường Phật giáo, mang tên "Trình bày về các cấp độ và con đường, trang nghiêm của tam thừa".[4]

Bên cạnh đó, một số nhân vật quan trọng khác cũng được đề cập đến, như: Jang Gya (1717–1786), là tác giả của "Bài thuyết trình về các giáo lý"; Ngawang Belden (–1797), người đã viết một bài bình luận quan trọng về "Sự trình bày tuyệt vời của các bài giáo lý" [5] của Jamyang Shéba, giải bày các vấn đề của những quan điểm khó khăn, viên ngọc quý của tư tưởng trong sáng và Pabongkhapa Déchen Nyingpo (Tib. ཕ་བོང་ཁ་པ་བདེ་ཆེན་སྙིང་པོ, 1878–1941), một học giả và nhà tranh luận nổi tiếng, người được biết đến như một tông phái mạnh mẽ và cũng là người bảo vệ phái Gelugpa. Truyền thống của sự thông thái và khóa tu thiền định của người Thầy vĩ đại Tông-khách-ba vẫn tiếp tục đến ngày hôm nay trong các Tu viện Gelugpa đã được xây dựng lại ở Ấn Độ, cũng như tại các trung tâm ở châu Âu và Bắc Mỹ. Đức Đạt-lai Lạt-ma hiện nay có lẽ là hóa thân sống tôn kính nhất của truyền thống về lý tưởng thành tựu trí tuệ và hành trì Mật tông. Ngài được đại đa số người dân Tây Tạng xem là biểu tượng cao quý của tất cả những gì tốt đẹp nhất và đáng để bảo tồn trong văn hóa của họ, và ngài thường mang lại ấn tượng sâu đậm với những người khi gặp ngài, bằng sự pha trộn khác thường của sự thánh thiện và khiêm nhường, hiểu biết sâu sắc về tư tưởng Phật giáo và thực hành thiền định.
 
Tài liệu tham khảo:

[1] Richardson. Hugh E. (1984), Tibet & its History. Second Edition, Revised and Updated, p. 41. Shambhala, Boston & London. ISBN 978-0-87773-376-8 (pbk).
[2] Jeffrey Hopkins (2016), Kön-chog-jig-may-wang-po’s Presentation of the Grounds and Paths: Beautiful Ornament of the Three Vehicles
[3] Ngag dbang dpal ldan (1964), Grub mtha' chen mo'i mchan 'grel dka' gnad mdud grol blo gsal gces nor, Pleasure of Elegant Sayings Printing Press, Sarnath.
Chú thích:
[1] Tashi Lhünpo, có nghĩa là "tất cả sự kiết tường và phúc lạc đều hội tụ ở đây”.
[2] Rinpoche là tôn danh có nghĩa "cao quý" và được sử dụng trong hai trường hợp. Trường hợp phổ biến là dùng để tôn gọi vị được công nhận là tái sinh của một vị đạo sư đời trước. Trường hợp ít thông dụng hơn, những đệ tử muốn tỏ lòng kính trọng nên gọi thầy mình là Rinpoche.
[3] Xem Richardson. Hugh E. (1984), Tibet & its History. Second Edition, Revised and Updated, p. 41. Shambhala, Boston & London. ISBN 978-0-87773-376-8 (pbk).
[4] Xem Jeffrey Hopkins (2016), Kön-chog-jig-may-wang-po’s Presentation of the Grounds and Paths: Beautiful Ornament of the Three Vehicles
[5] Xem Ngag dbang dpal ldan (1964), Grub mtha' chen mo'i mchan 'grel dka' gnad mdud grol blo gsal gces nor, Pleasure of Elegant Sayings Printing Press, Sarnath.

Các tin khác

Nghe nhiều

Lịch

THỐNG KÊ

Đang truy cập 6
Hôm nay 26
Hôm qua 45
Trong tuần 71
Trong tháng 525
Tổng truy cập 2187458