Môn Phong Tổ Đình Long Thiền,monphongtodinhlongthien.vn,monphongtodinhlongthien

NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA TÔNG PHÁI GELUGPA TRONG PHẬT GIÁO TÂY TẠNG - THÍCH NGUYÊN ĐỊNH

(Tiếp theo) Những đặc tính của Tông phái Gelugpa trong Phật giáo Tây Tạng


2.2.4. Các gia sư cao cấp và Giáo viên dạy kèm cho Đức Dalai Lama
Sau khi hoàn thành bằng cấp Géshé, có một số tiến bộ hơn nữa mà người ta có thể thực hiện trong hệ thống phân cấp tu viện. Một trong số đó là vai trò của người trợ giảng cho Đức Dalai Lama được trao cho một Géshé, người thể hiện khả năng đặc biệt. Đối với vai trò của người trợ giảng được trao cho một Géshé Hlarampa, người được công nhận là có tầm nhìn sâu rộng cho sự thông thái và những kỹ năng tranh luận. Trong số các gia sư, chức vụ cao nhất là gia sư cao cấp, được chuyển cho gia sư cấp cơ sở, khi gia sư cao cấp qua đời hoặc nghỉ hưu. Một gia sư mới sau đó được bổ nhiệm bởi một ủy ban gồm các Lạt ma nổi tiếng và hai nhà tiên tri Nechung Oracle (Tib. གནས་ཆུང་) [1] và nhà tiên tri Gadong Oracle (Tib. དགའ་གདོང་). [2]
Trong quá trình lựa chọn, tên của các ứng cử viên hàng đầu được viết trên những mảnh giấy nhỏ và mỗi cái được chèn vào những quả bóng có kích thước bằng nhau của bột lúa mạch rang. Chúng được đặt trong một cái bát trước bức tượng Phật hoặc Tanka. Một buổi lễ đặc biệt được thực hiện để đảm bảo rằng ứng cử viên tốt nhất được chọn, và quả bóng đầu tiên ra khỏi bát sẽ xác định ai sẽ là gia sư cơ sở tiếp theo. Người ta tin rằng các nhà tiên tri quyết định người nào là ứng cử viên tốt nhất và đảm bảo rằng quả bóng được ghi tên của người đó sẽ được chọn.
2.2.5. Đào tạo sau Đại học
Những người thành công đạt được cấp độ của Géshé thường tuân theo điều này, bằng cách tham gia một khóa tu dài hạn, thường kéo dài trong ba năm. Logic phía sau hệ thống này được dựa trên ý tưởng rằng, trước tiên người ta cần có được một nền tảng kỹ lưỡng trong kinh điển Phật giáo, triết học, giáo lý và thực hành Phật giáo trước khi tham gia thiền định toàn thời gian. Những học viên hiểu thấu đáo những gì họ đang thiền sẽ ít có khả năng lạc lối trong thiền hơn những người hiểu biết chỉ là bề ngoài. Một người nhận được bằng Géshé công nhận là người có một kiến thức uyên thâm và rộng khắp về các lĩnh vực chính của việc học Phật, và những người như vậy được coi là theo truyền thống Gelugpa, phù hợp nhất với thực hành thiền định.
Sau khóa tu nhiều Géshé được chọn để tiếp tục đào tạo Mật tông tại một trong những tu viện Mật tông Gelugpa, nói chung là Học viện Mật tông Thượng (Tib. རྒྱུད་སྟོད་གྲྭ་ཚང་ - Gyütö Dratsang; Eng. Upper Tantric College) hay Học viện Mật tông Hạ (Tib. རྒྱུད་སྨད་གྲྭ་ཚང་ - Gyümé Dratsang; Eng. Lower Tantric College)[3], được đặt tên theo vị trí của họ trong thành phố Lhasa.
2.2.6. Quản trị các Mật viện
Cấp độ tiếp theo của hệ thống phân cấp Gelugpa là vị trí phó trụ trì của một trong hai tu viện Mật tông chính. Vị trí này được Đức Dalai Lama chọn ba năm một lần và được tổ chức bởi một Géshé Hlarampa. Sau một nhiệm kỳ ba năm, phó trụ trì trở thành trụ trì mvà cựu trụ trì nghỉ hưu với tư cách là một “vị trụ trì quý giá”. Vị trụ trì mới được ban danh hiệu Rinpoché, có nghĩa là “những bậc tôn quý”[4]. Khi một người được bổ nhiệm lên ngôi vị trụ trì có thể khởi xướng một dòng dõi nhập thế, và tất cả những người kế vị của ngài sẽ mang danh hiệu Rinpoché. Vị trụ trì danh dự có thể chọn tiếp tục giảng dạy hoặc nhập thất để thiền định.
Vị trụ trì cao cấp nhất của Học viện Mật tông Thượng trở thành Sharpa Chöjé (Tib. ཤར་པ་ཆོས་རྗེ་) khi người giữ hiện tại nghỉ hưu, viên tịch hoặc được thăng chức. Sharpa Chöjé có thể tiến lên cấp bậc cao nhất trong hệ thống phân cấp Gelugpa, vị trí người nắm giữ ngai vàng của Ganden.
Vị trí Jangtsé Chöjé (Tib. བྱང་རྩེ་ཆོས་རྗེ་) của học viện - tu viện Ganden Jangtsé được giữ bởi một cựu trụ trì của Học viện Mật tông Hạ. Người nắm giữ ngai vàng của Ganden thừa kế chỗ ngồi của bậc Thầy vĩ đại Tông-khách-ba, người sáng lập ra dòng dõi Gelugpa. Người giữ ngai vàng thường phụng sự đóng góp cho một nhiệm kỳ là bảy năm, và người nắm giữ ngai vàng hiện tại là Yeshe Dönden, người thứ 90 giữ vị trí này. Người giữ ngai vàng được chọn trong số những học giả xuất sắc nhất theo Giới luật của Gelugpa, và chỉ những người đã đạt được mức độ của Géshé Hlarampa, từng là trụ trì của một trong hai tu viện Mật tông chính và sau đó được chọn làm trợ giảng là những ứng cử viên cho vị trí hàng đầu.
 Kết luận:
Dòng thời gian đã cung cấp cho chúng ta có một cái nhìn rõ hơn về lịch sử phát triển và hệ thống truyền thừa của tông phái Gelugpa, tưởng không cần phải lặp lại. Ngang đây chúng ta khẳng định rằng, những đóng góp to lớn của ngài Tông-khách-ba cho Phật giáo Tây Tạng, không những cải cách tích hợp các dòng truyền thống một cách uyển chuyển khéo léo để phù hợp với thời đại mà còn truyền cảm hứng xây dựng học thuyết về Tam học (S. Triśikṣā) đó là đạo đức, thiền định và trí tuệ một cách vững chắc trong nền minh triết Phật giáo Tây Tạng; cũng vậy trong suốt thời gian truyền bá Phật pháp của ngài Tông-khách-ba nhiều người đã lầm tưởng về ‘tánh không’ (S. Sūnyatā) như một loại chân không giống như vật thể có phần tương thích với những thứ mà các vị Thánh giả trải qua hoặc các cõi vô sắc (S. Ārūpyadhātu). Ngài Tông-khách-ba khẳng định rằng ‘tánh không’ như một số người đã ngộ nhận không phải là tư tưởng thực sự của Đức Phật, ngài Long thọ và sự giải thoát đạt được bằng cách nhận thức nó là vốn tự do ngắn ngủi. Theo Đại sư Tông-khách-ba ‘tánh không’ được giải thích tốt nhất trong học thuyết về sự vắng mặt bản chất bên trong của mọi thứ.
Ngài Tông-khách-ba đã kết hợp hài hòa về bản chất của Hīnayāna để làm cơ sở và bổ sung cho thực hành Mật tông. Do đó, dịch giả vĩ đại Taktsang Lotsawa đã viết: một số bám vào học thuyết Hīnayāna từ bỏ Mật tông. Những người khác yêu thích hệ thống Mật tông chê bai Hīnayāna. Tuy nhiên, người thầy Tông-khách-ba là nhà hiền triết đã thấy cách đưa mọi giáo lý do Đức Phật khai sáng vào thực hành một cách hoàn hảo."[5]
Trong số các đệ tử xuất sắc của ngài Tông-khách-ba, Gyaltsab (Tib. རྒྱལ་ཚབ།, 1364-1431), Khedrup Gelek Pelzang (Tib. མཁས་གྲུབ་དགེ་ལེགས་དཔལ་བཟང་པོ།, 1385-1438), và sau đó là Gene Drub được biết đến với danh xưng Dalai Lama đầu tiên. Sau khi thành lập tu viện Gaden nhiều cơ sở tu viện khác cũng được thành lập bởi các đệ tử của ngài. Jamyang Chöjé Tashi Palden (1379-1449) đã thành lập tu viện Drepung, nơi được coi là tu viện lớn nhất thế giới trước năm 1959. Bên cạnh đó, Jamchen Choje Shakya Yeshe (བྱམས་ཆེན་ཆོས་རྗེ་ཤཱཀྱ་ཡེ་ཤེས་, 1354-1435) thành lập tu viện Sera. Hơn nữa, Đức Dalai Lama đầu tiên đã thành lập tu viện Tashi Lhünpo ở tỉnh Tsang mà sau này trở thành trụ sở chính thức của Panchen Lama.
Các thế hệ tiếp theo cũng chứng kiến những ngôi sao sáng vĩ đại đã góp phần vào sự hưng thịnh của truyền thống Lạt ma Tông-khách-ba. Chúng bao gồm các bậc Thầy liên tiếp như: Dalai Lama  và  Panchen Lama, Kachen Yeshe Gyaltsen (1713-1793), Gunthang TenPai Donme (1762-1823), Ngulchu Dharma Bhadra (1772-1851) và gần đây là Phabongkha Dechen NyingPo (ཕ་བོང་ཁ་པ་བདེ་ཆེན་སྙིང་པོ,1878–1941) thường được gọi là Phabongkha Rinpoche. Thông qua việc thành lập các Học viện-tu viện lớn và cũng nhờ sự đóng góp cao quý của những vị Đạo sư vĩ đại này, nên truyền thống Gelugpa cuối cùng trở thành tông phái Phật giáo phổ biến nhất ở Tây Tạng.
 
Tài liệu tham khảo & Chú thích:
[1] Xem chương 5: những vị Lạt ma tôn kính của Tông phái Gelugpa.
[2] Vị trí của nhà tiên tri Gadong được liệt kê là vị trí cao thứ hai trong bảng xếp hạng của Nhà nước chính thức Tây Tạng. Nechung là người đầu tiên và Lamo Tsangpa là vị trí cao thứ ba. Nhà tiên tri Gadong được sở hữu trong trạng thái thôi miên bởi Dharmapāla “Shinjachen”, người bảo vệ “cổng phía nam” trong Pehar (vị thần chiến tranh, hóa thành một tu sĩ trẻ) Maṇḍala.[3] Xem Lhundub Sopa, Like a Waking Dream: The Autobiography of Geshe Lhundub Sopa, Boston. Wisdom Publications, 2012, tr. 158.[4] Đây là một thuật ngữ mà người Tây Tạng đề cập đến những người được công nhận là bậc Thầy tuyệt vời. Nó được trao cho các vị Lạt ma, các học giả đáng kính, các người Thầy quan trọng và các Thiền giả nổi tiếng, tất cả đều được người Tây Tạng coi là tài nguyên văn hóa lớn.
[5] Thupten K. Rikey and Andrew Ruskin, A Manual of Key Buddhist Tantra, Lotsawa Kaba Paltsang trs, Liberary of Tibetan Works and Archives, Dhramsala, HP, India, 1992, tr. 618.
 

Các tin khác

Nghe nhiều

Lịch

THỐNG KÊ

Đang truy cập 2
Hôm nay 65
Hôm qua 66
Trong tuần 257
Trong tháng 1340
Tổng truy cập 2193650