Môn Phong Tổ Đình Long Thiền,monphongtodinhlongthien.vn,monphongtodinhlongthien

VÌ SAO PHẢI LO TU HÀNH (Kinh Na Tiên Tỳ Kheo Lược Giải) Thích Nguyên Định

Chánh văn
王復問那先。卿曹用何等故行學道作沙門。
Vua lại hỏi: “Sa-môn các ngài vì sao phải xuất gia lo việc tu hành, học đạo?”
那先言。我以過去苦現在苦當來苦。欲棄 是諸苦。不欲復受更。故行學道作沙門。
Na-tiên đáp: “Chúng tôi vì thấy những sự khổ não trong quá khứ, trong hiện tại, biết là sẽ khổ trong tương lai, nên muốn dứt sạch các nỗi khổ đó, không muốn phải thọ nhận trở lại nữa. Vì vậy mà xuất gia tu hành học đạo.”
王復問那先。苦乃在後世。何為豫學道作 沙門。
Vua lại hỏi: “Việc khổ não mà ngài nói đó là thuộc đời sau, vì sao đời này lại phải lo tu?”
那先問王。王寧有敵國怨家欲相攻擊不。
Na-tiên hỏi: “Này đại vương, ngài có những kẻ thù địch nào thường muốn chờ dịp đến đánh phá chăng?”
王言。然。有敵國怨家。常欲相攻擊也。
Vua đáp: “Tất nhiên là có. Những nước đối nghịch với trẫm thường luôn chờ dịp thuận tiện để đem quân đánh phá.”
那先問王。敵主臨來時。王乃作鬥具備守 掘塹耶。當豫作之乎。
Na-tiên hỏi: “Vậy đại vương đợi quân địch đến, rồi mới lo chuẩn bị việc chống cự, hay phải lo dự phòng mọi việc từ trước?”
王言。當豫有儲待。
Vua đáp: “Phải lo dự phòng, chuẩn bị chờ sẵn.”
那先問王。用何等故豫作儲待。
Na-tiên hỏi: “Vì sao phải lo dự phòng, chuẩn bị chờ sẵn?”
王言。備敵來無時故。
Vua đáp: “Vì không thể biết quân địch sẽ đến lúc nào.”
那先問王。 敵尚未來何故豫備之。
Na-tiên hỏi: “Quân địch chưa đến chuẩn bị trước để làm gì?”
那先復問王。飢乃田種[,]渴乃掘井耶。
Na-tiên lại hỏi: “Này đại vương, có thể đợi khi đói mới đi cày ruộng, gieo giống; lúc khát mới đi đào giếng chăng?”
王言。皆當豫作之。
Vua đáp: “Không. Đều phải dự phòng, lo tính từ trước.”
那先言。尚未飢渴。何故豫作調度。
Na-tiên nói: “Quân địch còn chưa đến, sao phải lo chuẩn bị? Chưa đến lúc đói khát, sao phải lo dự phòng?”
王言。善哉。
Vua tán thán: “Hay thay!”
 



I. Đại ý: Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi người đều có suy nghĩ, tư duy khác nhau, có người giác ngộ cảnh vô thường chết chóc, tang thương của những người thân xung quanh rồi phát tâm xuất gia tu hành, cầu mong thoát ly sanh tử, hạng người này gọi là “giác ngộ trước rồi xuất gia sau”; cũng có người xuất gia tu hành theo giáo lý Phật đà rồi sau mới giác ngộ lý vô thường, hạng người này gọi là “tu trước rồi giác ngộ sau”. Trong hai hạng người nêu trên, hạng người thứ nhất, mà thầy Na tiên muốn nói đến trong bài kinh này, trước mắt chúng ta thấy bao nỗi khổ niềm đau, cái quả khổ trong hiện tại là nhân của quá khứ đã gây nên, do đó muốn quả đời sau (tương lai) hết khổ thì trong đời này phải lo gieo nhân lành ngay trong kiếp hiện tại này, chứ đừng chần chừ khi cái chết cận kề rồi mới lo tu.  
 II. Nội dung
1. Sa môn là gì?
a. Chánh văn
王復問那先。卿曹用何等故行學道作沙門。
Vua lại hỏi: “Sa-môn các ngài vì sao phải xuất gia lo việc tu hành, học đạo?”
b. Lược giải
Con người sống ở đời, có những quan điểm cho rằng, chết là hết là không còn gì để nói nữa, thân tứ đại trả về cho tứ đại, không còn lưu dấu gì trong cõi nhân gian này, quan điểm như vậy gọi là người chấp đoạn; còn có người cho rằng, linh hồn con người tồn tại mãi mãi, hễ kiếp này làm con nhà giàu thì kiếp sau cũng trở lại con nhà giàu, con quan thì lại làm quan, những suy nghĩ lạc hậu nhỏ nhoi, thiếu khoa học, kém tâm linh, yếu tinh thần học hiểu về đạo lý như thế thì gọi là người chấp thường. Đây là những tư duy suy nghĩ tiêu cực tệ hại nhất, mà đức Phật đã từng bác bỏ lên án hơn 26 thế kỷ về trước, thay vào đó đức Phật đưa ra con đường Trung đạo hay 12 mắt xích sự sống (12 nhân duyên), nhằm giải thích rõ về sự sinh thành triển chuyển của kiếp người, đồng thời phá vỡ 2 thái cực, bất cập và thái quá dẫn đến sự lũng đoạn tâm trí mê mờ khổ đau.
Vì mục kích thấy rõ được mối nguy hiểm sợi dây ái ân vô hình ràng buộc con người trôi lăn trong tam giới, nên Thái tử Tất-đạt-đa quyết chí vượt dòng sông A-nô-ma, cạo bỏ râu tóc xuất gia tu hành vào đêm 8/2/525 tll, tròn 19 tuổi (theo pg Bắc truyền, còn pg Nam truyền 29 tuổi). Mà động cơ xuất gia, nguyên nhân khiến Thái tử Tất-đạt-đa xuất gia làm sa môn là gì? Trước đó thái tử đã chứng kiến thấy những cảnh vô thường sanh già bịnh chết và vị Tu sĩ ở bốn cửa thành sau những lần đi dạo:
- Thái tử đi về cửa thành phía Đông gặp một người già
- Về cửa thành phía Nam gặp một người bệnh
- Về cửa thành phía Tây gặp một người chết
- Về cửa thành phía Bắc gặp một vị Tu sĩ, Ngài quyết định rời bỏ ngôi báu, cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, để lên đường tầm đạo.[1] Sau đó Ngài cùng Xa-nặc hướng về cửa phía Đông vượt thành xuất gia. Khi vượt qua khỏi dòng sông A-nô-ma, Ngài tự cạo bỏ râu tóc và khoác lên mình chiếc áo Sa môn.
Như vậy, ở đây danh từ Sa môn là chỉ chung cho những người xuất gia dù theo truyền thống hay tôn giáo đạo phái nào, vì tu sĩ Bà la môn cũng gọi là Sa môn. Cho nên để có sự phân biệt rõ ràng hơn về cách dùng từ đặt đúng vị trí, chúng ta cần có khái niệm về Sa môn là gì?
Sa môn (s. śramaa, p. samaa, e. recluse, monk, c. 沙 門), śramaa có động từ gốc là śram, nghĩa là  sự tinh tấn, nỗ lực trong đời sống phạm hạnh, nghiêm trì tịnh giới.
Trong  học thuyết Veda, danh từ sa môn là chỉ chung cho các tu sĩ hay đạo sĩ. Như vậy, nói đến sa môn là nói đến những đối tượng muốn thoát ly để tu tập. Nhưng đối với đức Phật, khái niệm sa môn không chỉ đơn thuần là những tu sĩ chung chung, mà là những tu sĩ có mục đích tu tập và đối tượng chứng đắc (giải thoát). Chính vì thế, trong phạm vi ý nghĩa này, sa môn được dùng để chỉ cho các Tăng sĩ Phật giáo hay nói đầy đủ phải là “sa môn Thích tử”, khác với sa môn của Bà la môn giáo là vậy.
Trong Kinh Pháp Cú câu 264, đức Phật chỉ rõ về hạng sa môn thông qua chiếc áo và đầu tròn đó gọi là ô trược sa môn hay lạm xí sa môn: “Đầu trọc, không sa môn. Nếu phóng túng nói láo. Ai còn đầy dục tham. Sao được gọi sa môn” .[2] Cũng trong Kinh này câu 9,  đức Phật đã phản ánh khá sinh động về những phần tử cả thân lẫn tâm chưa hề xuất gia, mà lúc nào cũng hiu hiu tự đắc cống cao ngạo mạn gặp ai cũng tự cho mình là xuất gia: “Ai mặc áo ca sa, tâm chưa rời uế trược. Không tự chế, không thực, không xứng áo ca sa”. Thì hạng người này thông thường người ta gọi là “cáo mượn oai hùm”. Bên cạnh đó, cũng trong kinh này câu 265, đức Phật đã tán thán khen ngợi những hạng người xuất gia làm sa môn về uy nghi hình tướng bên ngoài và tâm thoát tục bên trong cả hai đều xứng đáng đi trên con đường thánh giải thoát an vui: “Ai lắng dịu hoàn toàn, các điều ác lớn nhỏ, vì lắng dịu ác pháp, được gọi là sa môn”.
Trong Kinh 42 chương còn đưa ra một mẫu sa môn Thích tử lý tưởng và toàn bích đó là:  “Từ thân xuất gia, thức tâm đạt bổn, giải vô vi pháp, danh viết Sa Môn. Nghĩa là: Những người từ giã gia đình đi xuất gia phải nhận biết tự tâm, rõ biết bản tính, chứng ngộ pháp vô vi, mới xứng đáng là sa môn.
Đầy đủ và cụ thể hơn, trong Kinh Tương Ưng đức Phật dạy một người sa môn mẫu mực sống đời phạm hạnh, đoạn tận các tùy miên, lậu hoặc, liễu tri các pháp, chứng ngộ đạo quả giải thoát, chúng ta hãy nghe đức Thế Tôn dạy về điều đó:
“Do mục đích đoạn tận tam độc, con đường đưa đến đoạn tận tam độc, phạm hạnh được sống dưới sa môn Gotama… Vì mục đích nhổ sạch các tùy miên, phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn… Vì mục đích liễu tri hành lộ, phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn… Vì mục đích đoạn tận các lậu hoặc, chứng ngộ được quả giải thoát, phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn… Vì mục đích hoàn toàn tịch tịnh, không còn chấp thủ, phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn.”[3]
Hơn thế nữa, đời sống phạm hạnh thanh tịnh của sa môn còn là một nếp sống thiểu dục, tri túc, tiết độ, tỉnh giác trong mọi hoạt động, luôn chú tâm quán tưởng nghĩ về chánh pháp, bởi vì “Pháp là con đường sáng, dẫn người thoát cõi mê, đưa chúng con trở về, sống cuộc đời tỉnh thức”. Như đoạn kinh dưới đây mô tả:
“Vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không xảo trá, không hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không dao động, không lắm lời, không nói phô tạp nhạp. Luôn hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, chú tâm cảnh giác. Không thờ ơ với hạnh sa môn, tôn kính học tập, sống không quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ gánh đọa lạc, đi đầu trong đời sống viễn ly, tinh cần tinh tấn, an trú chánh niệm tỉnh giác, định tĩnh, nhất tâm, có trí huệ.”[4]
Như vậy, để trả lời câu hỏi của vua Di lan đà nêu trên, thầy Na tiên đã ứng đáp 1 cách rất nghiêm túc, thẳng thắn không chút phần do dự, vừa mang tính thiết thực hiện tại lại xác quyết rõ ràng mục đích của người xuất gia tu hành học đạo.
那先言。我以過去苦,現在苦,當來苦。欲棄 是諸苦。不欲復受更。故行學道作沙門。
Na-tiên đáp: “Chúng tôi vì thấy những sự khổ não trong quá khứ, trong hiện tại, biết là sẽ khổ trong tương lai, nên muốn dứt sạch các nỗi khổ đó, không muốn phải thọ nhận trở lại nữa. Vì vậy mà xuất gia tu hành học đạo.”
Cái khổ của con người luôn theo chúng ta từ vô lượng kiếp, vì chúng ta chưa giác ngộ, vượt qua sự đối đãi của hơn thua, bỉ thử,  chi phối bởi thất tình lục dục, nên khổ đau vẫn mãi là khổ đau. Cái khổ này luôn xoay vần trong 3 thời, quá khứ, hiện tại và tương lai. Chúng ta nhìn về phương diện nhân - quả. Quá khứ là nhân và hiện tại là quả; hiện tại gieo nhân và tương lai là quả, cứ như vậy chúng xoay vần tạo nên 1 vòng tròn khép kín. Con người theo đó cứ triển chuyển mãi từ đời này qua đời khác, từ kiếp kia qua kiếp nọ.
Cho nên cảnh tượng cuộc đời luôn diễn ra trước mắt cho chúng ta thấy bao nhiêu cảnh khổ, bao nhiêu con người thì bấy nhiêu nỗi khổ, khổ này chồng chất lên khổ kia. Trong 12 mắt xích sự sống, “vô minh duyên hành... duyên lão tử, sầu bi khổ ưu não”, chỉ cần đoạn trừ chặt đứt 1 mắt xích thì vòng tròn sanh tử khổ đau sẽ vô hiệu hóa. Vì thế người trí luôn luôn sống trong sự tĩnh thức, khôn ngoan trước cạm bẩy của giặc ngũ dục, phòng hộ các căn môn,[5]  khi 6 căn tiếp xúc với 6 trần không cho nó nảy sinh vọng tưởng điên đảo, cuồng tham, cuồng sân, cuồng si xỏ mũi dẫn dắt, mà phải sống tĩnh táo, cảnh giác trong từng sát na ý niệm, như trong Kinh Pháp cú, đức Phật thường khuyên dạy đệ tử của ngài rằng: “Tinh cần giữa phóng dật, Tỉnh thức giữa quần mê. Người trí như ngựa phi, Bỏ sau con ngựa hèn.”[6]  và người trí phải biết đc nhân mà mình đã tạo, đang tạo và sẽ tạo cho ra kết quả như thế nào trong đời này cũng như tương lai? Cho nên, “Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị. Dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị”.  Đó là lý do của người xuất gia làm sa môn tu hành học đạo để thoát ly sanh tử luân hồi, không muốn thọ cảnh khổ đời này, đời sau và nhiều đời sau nữa mà thầy Na tiên đã giải thích cho vua Di lan đà nghe là vậy.
2. Nhân tu hành học đạo, quả hạnh phúc an vui
a. Chánh văn
王復問那先。苦乃在後世。何為豫學道作 沙門。
Vua lại hỏi: “Việc khổ não mà ngài nói đó là thuộc đời sau, vì sao đời này lại phải lo tu?”
b. Lược giải
Không hẳn ngẫu nhiên mà vua Di lan đà hỏi những điều đó với thầy Na tiên, với 1 người thông minh trí tuệ như vua Di lan đà không hiểu gì về những tư tưởng bình thường như vậy hay sao? hà cớ gì phải hỏi thầy Na tiên về điều ấy làm gì? nhưng cách hỏi của người trí và cách trả lời của người thông tuệ mang tầm sáng suốt quyết đoán vững hơn, phải rào trước đón sau, nói năng kín kẽ, dùng mọi lý lẽ một cách khéo léo. Thế thì, cái khổ của của đời trước và đời này có dính líu gì với đời tương lai chăng? nỗi khổ niềm đau của đời sau có liên quan gì đến đời hiện tại này? và vì sao đời này phải lo tu? Nên biết việc làm của ngày hôm nay là đang gieo nhân để ngày mai thọ nhận quả, và việc làm của ngày mai là sẽ gieo nhân để cho ngày kia đón nhận quả, cứ như thế tương tục nối tiếp nhau. 
Người trí luôn lo sợ những việc làm, cái nhân mà mình đã gieo trong ý niệm hàng ngày, không biết có phù hợp với lời Phật, lời chư Tổ dạy hay không? có làm tổn thương đến người đến vật hay không? bởi sao vậy? vì sa môn mà làm phiền muộn não hại đến người khác thì k phải là sa môn đệ tử Phật, Nhẫn nhục đệ nhất đạo, Phật thuyết vô vi tối, Xuất gia não tha nhân, Bất danh vi sa môn”. Đó là cách hành xử của người trí; còn người phàm phu kém trí thiếu hiểu biết thì trái lại, họ sợ cái quả đến với họ hơn là sợ nhân. Thế nên  “Bồ tát thì sợ nhân, còn chúng sanh thì sợ quả” nghĩa là vậy.
3. Đời sau giải thoát, kiếp nầy gắng tu
Thay vì thầy Na tiên bằng cách trả lời trực tiếp những câu hỏi của vua Di lan đà đặt ra, xoay quanh vấn đề muốn thoát khỏi cảnh khổ của đời trước và đời sau, nên ngay trong đời hiện tại này phải lo tu, thì thầy Na tiên đã dẫn chứng 1 số ví dụ minh họa, cho vua Di lan đà thấy rõ, cái gì cũng phải có sự chuẩn bị, đề phòng trước, đó là phương pháp khả thi hiệu quả nhất.
Trong quân sự chiến trường, không thể đợi khi quân địch tiến sát biên giới, xâm nhập vào các làng mạc thành quách rồi vua mới cho các quân tướng triệu tập binh lính lại để lo tập luyện đánh trận.
Trong lĩnh vực đắp đê canh tác kinh tế, tăng gia sản xuất, đợi đến khi dân chúng chết đói rồi vua mới cho người lo việc cày ruộng, gieo mạ trồng lúa? thì thử hỏi có làm được cứu đói kịp hay không?
Trong lĩnh vực thủy lợi cung cấp nguồn nước, đợi cho đến khi mọi người khát nước rồi vua mới sai khiến phải lo đào giếng để có nước uống, thì thử hỏi có nước uống liền được không?
Cũng vậy, trong việc học hành, đợi giờ phút thi cử sắp đến rồi thí sinh mới lo soạn bài học bài hay sao?
Cũng không ngoại lệ, trong lộ trình tu tập giải thoát, đợi đến khi nào cận kề giờ phút sanh tử, cái chết trước mặt rồi mới lo tụng kinh niệm Phật lạy sám hối hay sao?.v.v... có rất nhiều trường hợp tương tự mà thầy Na tiên đc nêu ra ở đây, để dẫn chứng minh họa cho vua Di lan đà hiểu rõ hơn việc đạo cũng như đời, và việc đời cũng k khác đạo; việc lớn cũng như việc nhỏ và việc nhỏ cũng như việc lớn, cái gì có sự chuẩn bị trước, sắp xếp lo tính trước thì mức an toàn hiệu quả luôn đạt đc giá trị cao hơn. Việc tu hành con đường vượt thoát khổ đau cũng như thế, “sanh tử sự đại vô thường tấn tốc”, chúng ta không nên ngồi đó mà chần chứ tính thời gian trên ngón tay, lãng phí thời giờ, để thời gian luống qua 1 cách vô ích, sau này dù có muốn níu kéo lại đi chăng nữa cũng không kịp, “nhất tức bất hoàn thiên thu vĩnh biệt”, sống ngày nay biết việc tu hành làm tròn trách nhiệm khả năng của 1 người con Phật trong ngày nay, k biết rằng cách ấm đời này có còn trở lại thân người với 6 căn đầy đủ trong kiếp tương lai nữa hay không? “nhất thất nhân thân vạn kiếp bất phục”. Từ những quan điểm này ngài Tịch thiên (Shantideva) đã nói:
“Không có sự mê lầm nào tệ hơn. Nếu không sử dụng thân này để tu tập sau khi đã được thân người như một cơ may hiếm có. Không có sự mù quáng nào lớn hơn thế nữa.
Bởi thế bạn phải nỗ lực rút tỉa một ít tinh túy từ cuộc đời này ngay bây giờ. Dù thế nào đi nữa, chắc chắn bạn sẽ phải chết, và bạn không biết được lúc nào thì cái chết đến với mình.
Hiện tại chúng ta đang theo học Pháp, nhưng trong vòng một trăm năm nữa, không ai trong chúng ta còn sống sót.”[7]
 Cho nên việc gì thì chúng ta có thể còn hứa hẹn được, chứ việc tu hành không nên hẹn chờ chậm trễ trong mỗi ý niệm công phu, đó cũng là những lời trò chuyện giữa thầy Na tiên và vua Di lan đà cách đây hơn 21 thế kỷ qua, đồng thời là lời cảnh tỉnh luôn nhắc nhở những người phát tâm xuất gia chúng ta để đời sau được giải thoát, an vui, cả thân lẫn tâm không còn chịu cảnh khổ sở nơi các nẽo đường bất an khổ lụy, thì kiếp nầy đời nầy phải gắng công nỗ lực tu hành, để báo đền ơn đức Tam bảo, hầu đáp trả 4 ơn sâu nặng trong đời, “Muốn báo ơn Phật, thì ngay đời này, hãy cố nỗ lực, dũng mãnh tinh tấn, chịu khổ chịu nhọc, không tiếc thân mạng, hộ trì Tam bảo, truyền bá đại thừa, cảm hoá chúng sanh, đồng vào biển giác.”[8

III. Tóm lại, Người xuất gia thực đúng như lời thầy Na tiên nói với vua Di lan đà: “Chúng tôi vì thấy những sự khổ não trong quá khứ, trong hiện tại, biết là sẽ khổ trong tương lai, nên muốn dứt sạch các nỗi khổ đó, không muốn phải thọ nhận trở lại nữa. Vì vậy mà xuất gia tu hành học đạo.”
Đó là những điểm có thể được coi là lòng thương tưởng, sự nhắc nhở của thầy Na tiên cho tất cả mọi người, không nên rơi vào những vết lầy bánh xe thời gian, nơi đó nỗi khổ niềm đau của kiếp quá khứ bị vấp phải, nên muốn có được sự giải thoát an vui trong đời này và tương lai, thì kiếp hiện tại này đây là chúng ta đang gieo nhân phải lo tu chỉnh thân khẩu ý, gột rửa tham sân si, trang nghiêm giới định tuệ vậy.   

Tài liệu tham khảo
1- 大正新脩大正藏經 Vol. 32, No. 1670B. 那先比丘經卷上.
2- HT Giới Nghiêm (việt dịch), Mi Tiên Vấn Đáp, Tp.HCM, Nxb Tôn giáo, 2003.
3- Đoàn Trung Còn, Nguyễn Minh Tiến (dịch và chú giải), Nguyễn Minh Hiển (hiệu đính), Kinh Tỳ-Kheo Na-Tiên, Nxb Tôn giáo Hà nội, 2009.
4- Cao Hữu Đính (soạn dịch), Kinh Na-Tiên Tỳ Kheo, Tp.HCM, Nxb Tôn giáo 2000.
5- Thích Nữ Trí Hải (dịch), Giải Thoát Trong Lòng Tay, (tập 1), Nxb Thời đại, 2010.
6- HT. Thích Minh Châu (dịch), Kinh Pháp Cú, Nxb Tôn giáo, 2006.

Chú thích:
[1] Xem Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu.
[2] HT. Thích Minh Châu (dịch), Kinh Pháp Cú, Nxb Tôn giáo, 2006, câu 264.
[3] Tương Ưng Bộ V, các tr. 28-30.
[4] Tăng Chi Bộ II, tr. 206.
[5] Xem thêm Kinh Trung Bộ, 2- Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc.
[6] Kinh Pháp Cú, câu 29.
[7] Thích Nữ Trí Hải (dịch), Giải Thoát Trong Lòng Tay, (tập 1), Nxb Thời đại, 2010, các tr. 41-42.
[8] Kinh Thủy Sám, tr. 48.
 

Các tin khác

Nghe nhiều

Lịch

THỐNG KÊ

Đang truy cập 4
Hôm nay 22
Hôm qua 66
Trong tuần 22
Trong tháng 1652
Tổng truy cập 2177848